Bản chất chế độ dân chủ của chúng ta Những ngày gần đây, các thế lực thù

địch ra sức xuyên tạc quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, phủ nhận những thành tựu cách mạng, lợi dụng các vấn đề “dân tộc”, “tôn giáo”, “dân chủ”, “tự do báo chí”, những tiêu cực trong xã hội để chống phá, vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ. Chúng xuyên tạc, phủ nhận Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; ngợi ca, kích thích chủ nghĩa tự do, thực dụng. Những quan điểm “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập” cùng với những luận điệu bóp méo sự thật “Việt Nam vi phạm dân chủ”, “mất dân chủ”, vu khống Đảng Cộng sản Việt Nam là “trở lực” cho việc thực hiện dân chủ… do các thế lực thù địch bên trong và bên ngoài kết hợp chặt chẽ với nhau liên tiếp tung ra trong suốt hơn hai mươi năm đổi mới, lại rộ lên hiện nay với sắc thái biểu hiện mới. Cần khẳng định lại rằng, luận điểm “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập” chỉ có tính chất mị dân, thực chất là nhằm tước bỏ tính chất xã hội chủ nghĩa của nền dân chủ ở nước ta. Dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ khác hẳn về bản chất và đối lập về nguyên tắc với dân chủ tư sản. Đó là chế độ dân chủ “gấp triệu lần” hơn bất cứ chế độ dân chủ nào trong lịch sử như V.I.Lênin từng khẳng định. Thực thi dân chủ sai nguyên tắc, vô nguyên tắc đều là trái với lí tưởng của cách mạng, với bản chất dân chủ xã hội chủ nghĩa, có thể dẫn đến hậu quả khó lường. Xa rời những nguyên tắc của chủ nghĩa xã hội, thì việc dân chủ hóa sẽ trượt sang dân chủ phi xã hội chủ nghĩa và đồng nghĩa với việc thủ tiêu chủ nghĩa xã hội. Cần nhớ lại một bài học đau xót và thấm thía về sự vi phạm dân chủ và thực thi dân chủ sai nguyên tắc ở Liên Xô trong thời gian cải tổ. Những đơn thuốc “công khai hóa”, “dân chủ hóa”, “đa nguyên chính trị” đưa ra nhằm cải tổ chủ nghĩa xã hội lại tạo “thời cơ”, điều kiện thuận lợi cho các thế lực thù địch ráo riết hơn, quyết liệt hơn trong mưu đồ chống phá và dẫn đến thủ tiêu chế độ Xô viết. Thực tiễn cho thấy, bản chất tốt đẹp và tính ưu việt của nền dân chủ nước ta ngày càng thể hiện sinh động trong cuộc sống hằng ngày của quần chúng nhân dân. Kể từ khi khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), các tầng lớp nhân dân lao động Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức đứng lên làm chủ, tự mình tổ chức, cai quản và xây dựng xã hội mới. Đó là thành tựu vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Chế độ dân chủ ở nước ta, xét về bản chất, là một thể chế chính trị mà trong đó quyền lực chính trị - xã hội thuộc về nhân dân; là chế độ bảo đảm quyền làm chủ trên thực tế của nhân dân trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, tinh thần; phát huy cao độ tính tích cực sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và thông qua Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Quyền làm chủ của nhân dân không chỉ thể hiện trong các văn bản hiến pháp, pháp luật, mà ngày càng được thể hiện sinh động trong cuộc sống hằng ngày.

Đảng ta đã nhiều lần khẳng định: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu vừa là động lực của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân. Trong xã hội ta, mọi công dân Việt Nam đều có quyền tham gia quản lí xã hội một cách trực tiếp, hoặc thông qua người đại diện do mình lựa chọn. Trong các cuộc bầu cử Quốc hội và bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp, tỉ lệ cử tri đi bầu rất cao. Tỉ lệ đại biểu là nữ, người dân tộc thiểu số, chức sắc tôn giáo trong Quốc hội ngày càng cao, nhất là tỉ lệ nữ là đại biểu Quốc hội đứng thứ hai trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, đứng thứ 9/135 nước trên thế giới. Việc truyền hình trực tiếp các phiên chất vấn của Quốc hội; việc thực hiện đối thoại trực tuyến của Chủ tịch nước, của Thủ tướng Chính phủ… với nhân dân; những cuộc tiếp xúc của các đại biểu với cử tri chuẩn bị cho các kì bầu cử Quốc hội đã tạo điều kiện tốt hơn cho người dân thực hiện quyền làm chủ, thực thi quyền kiểm tra, giám sát các hoạt động của Nhà nước và đề đạt nguyện vọng, ý kiến của mình. Điều đó thể hiện sâu sắc bản chất tốt đẹp và tính ưu việt của chế độ dân chủ ở nước ta. Trong chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch triệt để sử dụng các phương tiện truyền thông hiện đại trong đó có mạng Internet vào việc truyền bá các quan điểm thù địch, sai trái, xuyên tạc, công kích chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước. Trong rất nhiều tài liệu tán phát trên mạng chúng vu cáo Đảng và Nhà nước ta vi phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, mà biểu hiện lộ liễu nhất là mới đây, một số tổ chức và cá nhân đã dựng đứng lên “tình hình vi phạm quyền tự do ngôn luận nghiêm trọng ở Việt Nam”; rồi kêu gọi Việt Nam “thả các blogger bị cầm tù và tôn trọng tự do Internet”. Những ai xuyên tạc tình hình Việt Nam cần phải thấy rằng, hiện nay báo chí Việt Nam có sự phát triển nhanh về số lượng, loại hình, ấn phẩm, đội ngũ những người làm báo, số lượng người đọc; cơ sở vật chất kĩ thuật, công nghệ, năng lực tài chính, sự tác động và ảnh hưởng xã hội. Báo chí thực sự là tiếng nói của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, là diễn đàn của nhân dân; quyền tự do báo chí được bảo đảm bằng pháp luật và thể hiện cụ thể trong thực tiễn. Ở Việt Nam, quyền tự do báo chí, tự do hội họp theo quy định của pháp luật. Hiện nay cả nước có 18.259 cơ sở của tổ chức xã hội, 1.681 cơ sở thuộc tổ chức xã hội - nghề nghiệp; có hơn 500 cơ quan báo chí, với hơn 700 ấn phẩm báo chí, hơn 2.500 trang thông tin điện tử đang hoạt động. Những con số này vẫn tiếp tục gia tăng. Hệ thống phát thanh truyền hình phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng. Hầu hết các xã được phủ sóng truyền hình. Việt Nam là một trong những nước có tốc độ phát triển nhanh nhất trên thế giới về Internet. Đó là kết quả biểu hiện rõ ràng và sinh động về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở nước ta. Cũng như các quốc gia khác, Việt Nam có quyền ngăn chặn việc lưu hành trên mạng các thông tin và hình ảnh vi phạm thuần phong mĩ tục, kích động bạo lực, khiêu dâm, truyền bá các tài liệu chống phá đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước, vi phạm an ninh quốc gia. Đó hoàn toàn không phải là “hạn chế dân chủ”, ngăn chặn sự “bày tỏ quan điểm ôn hòa trên Internet” như có người cố tình gán ghép. Những luận điệu vu cáo Đảng và Nhà nước ta “vi phạm” tự do ngôn luận, tự do báo chí là những

Bản chất tốt đẹp và tính ưu việt đó không phải tự nhiên mà có. Bất cứ một nền dân chủ nào cũng vậy. dù là dân chủ tư sản hay dân chủ xã hội chủ nghĩa đều tồn tại trong khuôn khổ pháp luật. dân chủ và công bằng xã hội. xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. . là trái với dân chủ. “tà”.Yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá. bảo đảm tính truyền thống và tính hiện đại của hệ thống pháp luật Việt Nam.1. mà đó là kết quả của biết bao mồ hôi công sức và cả máu xương của nhiều thế hệ người Việt Nam. chính sách của Đảng về xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá. Cần phải thấy rằng. .Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật phải bảo đảm phát huy nội lực. . phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân.Thể chế hoá kịp thời và đầy đủ đường lối. lợi dụng tự do báo chí. . chống lại Tổ quốc và dân tộc là hành động không thể chấp nhận được. 2. dân chủ bao giờ cũng gắn liền với pháp luật và kỉ luật. .Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật phải xuất phát từ thực tiễn Việt Nam. nhằm dụng ý xấu.Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật phải phục vụ cho mục tiêu phát triển bền vững.luận điệu vô căn cứ. Báo chí phải thực sự là “vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà”. Chúng ta phải kiên quyết bảo vệ. xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.Yêu cầu xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự cần thiết phải hoàn thiện hệ thống pháp luật trong giai đoạn hiện nay: . hiện đại hoá đất nước.Yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân. 2. Lợi dụng dân chủ. xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ. . do dân và vì dân. nhưng bản chất chế độ dân chủ ở nước ta là tốt đẹp và ưu việt. Dù còn có những hạn chế nhất định trên con đường hoàn thiện. Tự do ngôn luận. . càng không thể là vô chính phủ. nâng cao và phát huy trong sự nghiệp đổi mới.2. Dân chủ không có nghĩa là dân chủ vô nguyên tắc. hiện đại hoá.Yêu cầu mở rộng hợp tác quốc tế và chủ động hội nhập. chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Phương hướng và giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay. đồng thời tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm và chuẩn mực quốc tế. tự do báo chí không có nghĩa là tự do đảo lộn “chính”. tự do Internet để gây mất ổn định chính trị .xã hội.Yêu cầu củng cố và mở rộng dân chủ. Những quan điểm cơ bản về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong giai đoạn hiện nay: . . giữ gìn. kỉ cương.

hình thành các chương trình. Quyền lực nhà nước là thống nhất. . vì nhân dân. VẤN ĐỀ THỐNG NHẤT.Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật phải đảm bảo tính khả thi. do dân. .. Vì vậy. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.Tăng cường công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ làm công tác pháp luật. phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp. tư pháp”(1). bảo đảm cho pháp luật tương đối ổn định. . đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi Đảng và Nhà nước đang từng bước tổ chức xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân. kế hoạch xây dựng và hoàn thiện pháp luật. . phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp. vì dân. là Nhà nước pháp quyền của dân. nghiên cứu nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất. Tư tưởng đó đã được thể chế hóa trong Điều 2 của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) như sau: “Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân. Việc nhấn mạnh nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất.Tăng cường năng lực của các cơ quan pháp chế Bộ. hành pháp. ngành. . . có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp.3. tính hiệu lực và hiệu quả của pháp luật trong thực tiễn cuộc sống. có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp. 2. tư pháp”. chiến lược pháp luật. do nhân dân. .Xây dựng chiến lược phát triển hệ thống pháp luật gắn với chiến lược phát triển kinh tế xã hội. do dân và vì dân.Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật phải kịp thời vững chắc và cơ bản. hành pháp và tư pháp là sự sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. . có sự phân công. pháp lệnh trình Quốc hội và Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ. kế thừa và phát triển liên tục. Một số phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật.Tăng cường năng lực lập pháp của Quốc hội.Tăng cường sự chỉ đạo. hành pháp và tư pháp ở nước ta dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh có ý nghĩa hết sức quan trọng cả về lý luận lẫn thực tiễn. điều hành của Chính phủ đối với công tác xây dựng các dự án luật. hành pháp. PHÂN CÔNG VÀ PHỐI HỢP QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC Nghị quyết Đại hội IX của Đảng khẳng định: “Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân.Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học pháp lý để cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định chính sách. có sự phân công. Quyền lực nhà nước là thống nhất.

nhiệm vụ của mình theo đúng Hiến pháp. Ở đây có ba nội dung trong cơ chế phân công quyền lực nhà nước cần chú ý: Một là. thuộc về nhân dân và thống nhất vào Quốc hội. Như vậy. không một cơ quan nhà nước nào có thể thâu tóm toàn bộ quyền lực nhà nước vào tay mình và cũng không cho phép lấn át chức năng giữa chúng. Mỗi quyền lực phát huy hiệu lực của mình.Trên quan điểm thống nhất quyền lực nhà nước. hành pháp. Tòa án nhân dân và Viện Kiểm sát phải có vị trí tương đối độc lập trong bộ máy nhà nước và thực hiện các chức năng. nếu cơ chế phân công quyền lực không chặt chẽ. sự phân công quyền lực là cơ sở để thực hiện tốt nhất quyền lực nhà nước thống nhất. sự phân công quyền lực nhà nước còn bao hàm cả sự phối hợp quyền lực. cụ thể thì hiệu lực. Sự phân định này càng rõ ràng. càng hợp lý thì quyền lực nhà nước càng thống nhất. phát huy ưu điểm. hành pháp và tư pháp) trong nhà nước pháp quyền thể hiện ở chỗ: Quyền lực nhà nước là thống nhất. tổ chức và hoạt động của Nhà nước đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. không xâm phạm quyền lực khác và cũng không bị xâm phạm bởi quyền lực khác. những yếu tố hợp lý của cách thức tổ chức quyền lực nhà nước trong lịch sử đã được Đảng ta tiếp thu và nâng lên thành lý luận về sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước. tư pháp. Kế thừa những tư tưởng tổ chức quyền lực nhà nước của các Hiến pháp. mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước sẽ bị lỏng lẻo dẫn đến nguy cơ quyền lực nhà nước bị phân tán. Cơ chế phân công càng chặt chẽ. quyền lực nhà nước là thống nhất. Đảng đã chủ động thực hiện nguyên tắc này nhằm tổ chức quyền lực nhà nước chặt chẽ. Nhưng mỗi loại quyền lực . Hai là. vì dân. Nhà nước của dân. Quốc hội. Ngược lại. Những nguyên tắc trên từng bước được thể hiện trong các Hiến pháp nước ta: Hiến pháp năm 1946. vừa bảo đảm sự thống nhất của quyền lực nhà nước. Đồng thời. Thực ra. quyền lực của Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa được thực hiện theo cơ chế phân công và phối hợp. Hiến pháp năm 1959 và Hiến pháp năm 1980. là sự thể hiện ý chí của nhân dân và dựa trên chủ quyền của nhân dân. Luật Tổ chức và Hoạt động các cơ quan nhà nước. do dân. Chính phủ. sự phân công và phối hợp quyền lực trên cơ sở bảo đảm quyền lực nhà nước bắt nguồn từ nhân dân. trong quá trình tổ chức Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa. nhưng để bảo đảm tính thống nhất đó phải phân công hợp lý và chặt chẽ cho các cơ quan trong việc thực hiện quyền lực. Ở đây. Hiến pháp năm 1992 đã thể hiện rõ và đầy đủ hơn sự thống nhất. khắc phục nhược điểm. nhiệm vụ của mỗi loại hình cơ quan nhà nước. hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước càng được nâng cao. xử lý khoa học mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước “tối cao” trong quá trình thực hiện quyền lực. Sự phân công ba loại quyền lực (lập pháp. Vì vậy. Bản thân sự phân công quyền lực mang trong mình cơ chế ràng buộc lẫn nhau giữa các thiết chế quyền lực “tối cao” nhằm mục đích vừa bảo đảm cho mỗi loại hình cơ quan nhà nước tương đối độc lập. việc phối hợp các cơ quan nhà nước thực hiện quyền lực nhà nước thống nhất cũng là sự phân công quyền lực.Vấn đề có tính nguyên tắc. sự phân công quyền lực giữa các cơ quan nhà nước thể hiện ở sự phân định chức năng. là quyền lực nhà nước luôn luôn thống nhất. có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp. Đảng Cộng sản Việt Nam đã khái quát thành các nguyên lý: quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.

Sự phân công như vậy là phù hợp. Sự phân công và phối hợp phải được xác định một cách uyển chuyển. Hiến pháp năm 1992 sửa đổi). Chính phủ là cơ quan hiến định nắm quyền hành pháp. rành mạch.I. đối lập lẫn nhau. Điều 4 Hiến pháp ghi nhận: “Đảng Cộng sản Việt Nam. mà còn đại diện cho quyền lợi của nhân dân lao động và của cả dân tộc. sự phân công quyền lực không thể thực hiện một cách cứng nhắc mà luôn song hành với sự phối hợp tạo thành sự thống nhất quyền lực nhà nước. mà nòng cốt là “liên minh giữa giai cấp công nhân. Về nguyên tắc chung. quyền tư pháp – hoạt động xét xử nhằm bảo vệ pháp luật. trong đó. Quyền lực nhà nước thống nhất vào Quốc hội nhưng được phân công cụ thể.được phân công thực hiện các dạng hoạt động độc lập là: quyền lập pháp – hoạt động làm luật. theo chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. thông suốt từ trung ương đến cơ sở và thực sự có hiệu lực. linh hoạt. Ba là. nông dân và đội ngũ trí thức” (Điều 2. Quốc hội là cơ quan hiến định thống nhất các quyền nhưng không thực thi cả ba quyền. không chỉ đại diện cho quyền lợi giai cấp mình. Tòa án nhân dân cùng với Viện Kiểm sát nhân dân được phân công thực hiện quyền tư pháp. Nhân dân là chủ thể thống nhất của quyền lực nhà nước đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. trong đó giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo mà Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của nó. Sự phân công đó là rất cần thiết để xây dựng một nền hành chính quốc gia luôn luôn ổn định. Khi xét xử. Giám sát là rất cần thiết nhưng giám sát không phải là đối trọng. nhà nước là sản phẩm của đấu tranh giai cấp và nhà nước được thành lập bởi ý chí của giai cấp thống trị. đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân. Viện Kiểm sát nhân dân thực hiện quyền công tố và kiểm soát các hoạt động tư pháp theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Lê-nin trong các bài viết nhiều lần . thống nhất. nhưng cơ sở của xã hội là nhân dân. Ở Việt Nam không có cơ sở để thực hiện chế độ chính trị đa đảng và cũng không cần phải đa đảng. thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. nhân dân lao động và của cả dân tộc. sẽ được quyền lực hành pháp thực thi trong đời sống hằng ngày và được quyền lực tư pháp bảo vệ. sinh động nhằm đạt được sự thống nhất trong quá trình thực hiện quyền lực.V. Chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã chứng minh rằng. là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. mà tập trung thực hiện quyền lập pháp. bảo đảm quyền lực nhà nước thống nhất vào Quốc hội. Sự phối hợp các quyền lực trong nhà nước được điều chỉnh một cách nhịp nhàng và đồng bộ trên cơ sở các quy định của pháp luật như: Các quyền của công dân được quyền lực lập pháp ghi nhận trong Hiến pháp. không phụ thuộc vào bất cứ cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội nào. của nhân dân. quyền hành pháp – hoạt động thực thi pháp luật. Sự phân công chặt chẽ và rõ ràng chỉ có thể đạt được trong thực tế nếu có sự giám sát lẫn nhau. quyền lực nhà nước thống nhất thuộc về nhân dân. đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam. Quyền lực nhà nước là thống nhất thể hiện trên hai phương diện: Về phương diện chính trị. các lợi ích của nhà nước và xã hội. Đảng là yếu tố quan trọng để thực hiện quyền lực nhà nước thống nhất. Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của quyền lực nhà nước. bảo vệ các quyền tự do của công dân. hiệu quả. Đây là nền tảng của sự thống nhất bởi quyền lực nhà nước bắt nguồn từ nhân dân.

tập quyền xã hội chủ nghĩa. Quyền lực nhà nước gồm 3 yếu tố không thể phân chia là quyền lập pháp. bình đẳng. theo đó. quyền lực nhà nước thống nhất vào nhân dân chứ không phải thống nhất vào Quốc hội. Ba thứ quyền này tồn tại đồng thời từ khi xuất hiện nhà nước. tư pháp có sự độc lập nhất định đối với Quốc hội. và chính quyền phải chịu trách nhiệm trước các xô-viết”. tư pháp giống như cây quyền lực gồm 3 nhánh. trực tiếp. quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân – nền tảng chính trị chung – được khẳng định trong Điều 2 và Điều 6 của Hiến pháp năm 1992 rất cụ thể: “Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân…”. Như vậy. theo chúng tôi.Mác nhận xét: Công xã Pa-ri không phải là cơ quan đại nghị.khẳng định: Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân. V. Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài báo Dân vận (viết năm 1949) đã tuyên bố: “Mọi quyền lực đều ở nơi dân”. Trên cơ sở tổng kết đấu tranh giai cấp. Chúng tôi cho rằng. rõ ràng quyền lực nhà nước tập trung vào Quốc hội. Chính phủ và Tòa án nhân dân tối cao là những cơ quan cao nhất của từng loại quyền lực nhà nước. tập trung về tay nhân dân. các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã khẳng định quan điểm về sự thống nhất nội tại giữa các bộ phận cấu thành quyền lực nhà nước. bỏ phiếu kín. nhưng nhân dân đã trao quyền lực cho Quốc hội thông qua bầu cử phổ thông đầu phiếu. Trong lịch sử có nhiều hình thức tổ chức quyền lực nhà nước khác nhau: Quyền lực nhà vua chuyên chế ở xã hội chiếm hữu nô lệ và phong kiến. vừa hành pháp. nhiều tầng lớp với các lợi ích khác nhau. phối hợp các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp. mà là một tập thể hành động vừa lập pháp. Sự thống nhất quyền lực nhà nước của Công xã Pa-ri được C. các tác giả tuyên bố quyền lực nhà nước thống nhất vào nhân dân là muốn vận dụng nguyên tắc phân quyền vào quá trình xây dựng bộ máy của Nhà nước ta. Cần nhấn mạnh rằng. Chúng tôi hiểu rằng. Như vậy. phân quyền tư sản.I. đây là sự thống nhất nội tại chứ không phải là phép cộng các bộ phận quyền lực đó lại. Mặc dù ở nước ta “tất cả quyền lực thuộc về nhân dân”. Ăng-ghen đã khẳng định tính giai cấp của quyền lực nhà nước và đã mở đường cho việc thiết lập quyền lực nhà nước thống nhất. Về phương diện pháp lý. sẽ là người duy nhất có quyền hợp pháp phân công việc thực hiện ba quyền: Quốc hội. ở đó phạm trù nhân dân bao gồm nhiều giai cấp. binh sĩ và nông dân trên cơ sở một cương lĩnh nhất định. sẽ là vội vã khi đưa ra kết luận như vậy. quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và để thực hiện quyền lực nhà nước thống nhất đó chúng ta cần xác lập cơ chế thực hiện quyền lực: phân công. Nhà nước là do nhân dân thành lập nên và quyền lực nhà nước luôn luôn thuộc về nhân dân. phân quyền là cách thức tổ chức quyền lực của nhà nước tư sản. mà phân công cho nhiều cơ quan thực hiện… Ở Việt Nam. hiện có hai quan điểm khác nhau: Một là. Về vấn đề quyền lực nhà nước thống nhất vào đâu. Còn dưới chế độ xã hội chủ nghĩa phạm trù nhân dân gồm các giai . hành pháp. Mác và Ph. C. nhân dân thông qua sự biểu quyết phê chuẩn Hiến pháp. Như đã phân tích ở trên. không phải là sự “nhập cục” tất cả và trao cho một cơ quan thực hiện. hành pháp và tư pháp. Lê-nin viết: “Toàn bộ chính quyền nhà nước phải hoàn toàn chuyển về tay các xô-viết đại biểu công nhân. Với điều quy định đó. Phân quyền giúp ngăn chặn sự chiếm đoạt quyền lực của thế lực này để áp chế thế lực khác. và các cơ quan hành pháp. Song.

Điều đáng bàn ở đây là. Chính phủ. Nói quyền lực nhà nước thống nhất vào Quốc hội là dựa trên cơ sở chính trị. Hiến pháp Việt Nam quy định một nhiệm kỳ thống nhất cho các cơ quan tối cao thực hiện quyền lực nhà nước. để bảo . không bảo đảm được tính thống nhất. Tại Điều 85. quyền lực nhà nước ở Việt Nam là ý chí thống nhất của nhân dân lao động được thực hiện thông qua nhà nước đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đương nhiên. Tôi đồng tình với ý kiến này và xin được nhấn mạnh thêm một số vấn đề sau. Khi Quốc hội hết nhiệm kỳ thì các cơ quan nhà nước “tối cao” khác cũng hết nhiệm kỳ và tại kỳ họp đầu tiên của mỗi khóa Quốc hội. quyền lực nhà nước thống nhất vào Quốc hội. Như vậy. pháp lý và thực tiễn. Về mặt chính trị. Trong khi đó ở nghị viện tư sản. Điều 113. Lý do của việc quy định nhiệm kỳ không thống nhất của các cơ quan nhà nước “tối cao” chỉ có thể được giải thích là nhằm để thực hiện đối trọng. trong khi đó tại Điều 2 quy định nhiệm kỳ của Tổng thống là 4 năm. và tất cả các đại biểu Quốc hội đều do nhân dân trực tiếp bầu ra để thay mặt nhân dân nắm giữ quyền lực nhà nước. còn nghị viện tư sản không thể là cơ quan đại diện cho toàn thể nhân dân được. không phân chia thành hai viện. Bằng một cuộc bầu cử dân chủ như vậy. Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao đều “theo nhiệm kỳ của Quốc hội”. trực tiếp và bỏ phiếu kín. tại Điều 3 quy định nhiệm kỳ của các thẩm phán là suốt đời. Thượng nghị viện là 6 năm. Chính phủ. mà cần có sự phân công. chế ước lẫn nhau. quan điểm của Đảng ta về cơ chế thực hiện quyền lực nhà nước đã được thể chế hóa tại Điều 6 của Hiến pháp năm 1992 là phù hợp. tại Điều 1 quy định nhiệm kỳ Hạ nghị viện là 2 năm. Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam không thể tổ chức theo nguyên tắc phân quyền. phải thực hiện sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lực nhà nước sao cho hợp lý nhất. Điều đó nói lên rằng. Ví dụ. Điều 102. đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản thì cần thiết phải có một cơ quan đại diện quyền lực thống nhất đó. vì nếu chia như thế thì dẫn đến kiềm chế và triệt tiêu nhau làm cho quyền lực nhân dân sẽ bị phân tán. không phải tất cả mọi công việc đều dồn hết vào cơ quan đại diện quyền lực. Về mặt thực tiễn. Quốc hội của nước ta là cơ quan đại diện cho toàn thể nhân dân thống nhất. Vì vậy. Quốc hội của nước ta ngay từ khi ra đời đến nay luôn luôn được tổ chức theo cơ cấu thống nhất. cứ 5 năm một lần nhân dân ta trao cho Quốc hội thực hiện quyền lực nhà nước của mình. Hai là. Ở các nước tư sản phân quyền không có sự thống nhất này. Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất do nhân dân cả nước bầu ra thông qua phổ thông đầu phiếu bình đẳng. nhân dân chỉ bầu Hạ nghị viện còn Thượng nghị viện không do nhân dân bầu. phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lực nhà nước. không thể phân chia cho các nhánh quyền lực. Vì những lẽ đó. các đại biểu Quốc hội thay mặt cử tri cả nước bầu ra các cơ quan nhà nước tối cao để xác lập cơ chế phân công và phối hợp trong việc thực hiện quyền lực nhà nước. chúng tôi cho rằng. tính thống nhất quyền lực của Quốc hội nước ta thể hiện rất rõ ở chỗ: Chủ tịch nước. Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao đều do Quốc hội của nhiệm kỳ đó cử ra.cấp lao động có cùng lợi ích cơ bản. Về mặt pháp lý. Điều 138 của Hiến pháp năm 1992 quy định nhiệm kỳ của Quốc hội là 5 năm và nhiệm kỳ của Chủ tịch nước. Hiến pháp Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Điều 128. bởi vì quyền lực nhà nước thống nhất là của nhân dân.

do nhân dân và . kể cả của Quốc hội là do nhân dân giao cho thông qua phổ thông đầu phiếu. mất dân chủ. mỗi cơ quan nhà nước “tối cao” thực thi nhiệm vụ của mình một cách tương đối độc lập. các nhánh quyền lực đối lập và đối trọng lẫn nhau. nhà nước là sản phẩm của đấu tranh giai cấp và nhà nước được thành lập bởi ý chí của giai cấp thống trị. Bởi lẽ. Quyền lực nhà nước thống nhất vào Quốc hội nhưng có sự phân công hợp lý cho các hệ thống cơ quan nhà nước thực hiện. không một cơ quan nào được lạm quyền và đứng trên pháp luật. “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”. bảo đảm mỗi tổ chức làm đúng chức năng của mình và đúng pháp luật. Một số vấn đề về sự thống nhất. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định “mọi quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. nhưng cơ sở xã hội của Nhà nước là nhân dân. Sự khác nhau căn bản giữa quyền lực nhà nước thống nhất và phân quyền tư sản thể hiện ở chỗ. 2006. không một ai. Tuy nhiên.đảm sự thống nhất của quyền lực nhà nước phải tập trung vào cơ quan đại diện quyền lực nhà nước duy nhất và cao nhất do nhân dân bầu ra. hành pháp và tư pháp” (Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 10 NXB chính trị quốc gia. Hơn nữa. độc đoán. phân công và phối hợp quyền lực nhà nước ở nước ta Nghị quyết đại hội 10 của Đảng khẳng định: “Xây dựng cơ chế vận hành của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Đây là sự phân công hợp lý giữa các cơ quan nhà nước. dễ dẫn đến chuyên quyền. lịch sử các triều đại phong kiến ở nước ta đã chứng minh điều đó.Lê Nin đã từng chứng minh rằng. Điều 2 hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001) quy định: “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân. tại sao trong chế độ ta quyền lực vẫn thực hiện theo nguyên tắc tập quyền. Hà nội. còn trong nhà nước tư sản. có sự ràng buộc. tập quyền trong chế độ Phong kiến là tập trung quyền lực vào một cá nhân . Quyền lực của các cơ quan nhà nước. Vậy. quyền lực nhà nước là thống nhất. Lê-nin là xô-viết và trong tư tưởng của Hồ Chí Minh là Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. V.I. Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài báo Dân vận viết năm 1949 đã khẳng định: “mọi quyền lực đều ở nơi dân”. có sự phân công. phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp. Sau khi phân công quyền lực.I. có độc đoán. nhân dân không được toàn quyền trong việc lựa chọn Vua. trang 126) Như vậy. của V. hợp tác và giám sát lẫn nhau. Tập trung quyền lực nhà nước vào cá nhân (Vua). chuyên quyền như trong chế độ Phong kiến? Chủ nghĩa Mác . các cơ quan nhà nước ở Việt Nam hợp tác và giám sát lẫn nhau thực hiện quyền lực nhà nước. tập quyền trong chế độ ta khác hẳn về chất so với phương thức tập quyền trong chế độ Phong kiến. tất cả đều nằm trong quyền lực nhà nước thống nhất.đó là Vua. không cơ quan nào đứng trên cơ quan nào.Lê nin trong các bài viết nhiều lần khẳng định: Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân. theo quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam việc thực hiện quyền lực Nhà nước ở nước ta dựa trên nguyên tắc tập quyền. vấn đề tập quyền trong chế độ ta liệu có dẫn đến lạm dụng quyền lực. đảm bảo nguyên tắc tất cả quyền lực thuộc về nhân dân. Cơ quan đại diện ấy trong quan niệm của C. Vua được lên ngôi theo nguyên tắc cha truyền con nối. Mác đó là công xã. theo quy định của pháp luật Phong kiến.

nguyện vọng của nhân dân. Bởi vì. quyền lực vẫn thống nhất vào Quốc hội. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đều do Quốc hội bầu ra trong số đại biểu quốc hội và Quốc hội có quyền bãi miễn khi xét thấy cần thiết. Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân. tư pháp”.vì nhân dân. Vì vậy. tập thể này được nhân dân cả nước lựa chọn những người có đủ tài đức bầu ra theo nhiệm kỳ. Viện kiểm sát thực thi quyền tư pháp. Chánh án Toà án nhân dân tối cao và Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao . Sự phân công rành mạch trong thực hiện quyền lực nhà nước cũng là yếu tố quan trọng góp phần thực hiện sự giám sát lẫn nhau giữa các cơ quan trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.tập thể đó chính là Quốc hội. Quốc hội thực hiện cơ chế phân công quyền lực. tuy có sự phân công thực hiện quyền lực nhưng Thủ tứơng Chính phủ. Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí. nguyên tắc tập quyền của chế độ ta là tập trung quyền lực vào một tập thể. Vậy. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông nhân và đội ngũ trí thức. Sự phân công như vậy là phù hợp bởi vì vẫn đảm bảo quyền lực thống nhất vào Quốc hội. mức độ vi phạm Quốc hội có quyền bãi miễn những cá nhân đó. bình đẳng. (Điều 6 hiến pháp năm 1992) Khác với tập trung quyền lực vào cá nhân như trong chế độ Phong kiến. Nhân dân thông qua chế độ bầu cử: phổ thông. có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp. sự phân công đó cũng rất cần thiết để xây dựng một nền hành chính quốc gia luôn ổn định. Quyền lực của nhân dân được thống nhất vào Quốc hội nhưng để thực thi quyền lực đó có hiệu quả. Mặt khác. cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. hoặc dẫn đến độc đoán chuyên quyền. mất dân chủ. do nhân dân bầu ra và phải chịu trách nhiệm trước nhân dân. Toà án. Hơn nữa. Phó thủ tướng Chính phủ và các thành viên khác của Chính phủ đều do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn. nếu không hoàn thành nhiệm vụ hoặc vi phạm kỷ luật tuỳ theo mức độ có thể bị cử tri hoặc Quốc hội bãi miễn . Toà án và Viện kiểm sát được phân công thực thi quyền tư pháp nhưng Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Tuỳ tính chất. Vấn đề quan trọng được nhiêu người cùng quan tâm. mà tập trung thực hiện quyền lập pháp. Như vậy. Chính phủ là cơ quan hiến định được phân công nắm quyền hành pháp. thống nhất từ trung ương đến cơ sở. tuy quyền lực nhà nước dược thực hiện theo nguyên tắc tập quyền nhưng không sợ có nguy cơ bị lạm dụng quyền lực. trực tiếp và bỏ phiếu kín đã tự nguyện trao quyền lực của mình cho các đại biểu Quốc hội và đã tập trung quyền lực của mình vào Quốc hội. sự phân công quyền lực giữa các cơ quan trong bộ máy Nhà nước ta và sự phân chia quyền lực trong các Nhà nước tư sản có điểm nào khác nhau cơ bản? Nhà nước ta thực hiện cơ chế phân công quyền lực chứ không phải phân chia quyền lực. những người được Quốc hội bầu hoặc phải chịu trách nhiệm trước Quốc hội. Những người đó phải chịu trách nhiệm trước nhân dân cả nước.cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân cả nước. là làm thế nào để Quốc hội thực sự là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam . Quyền lực nhà nước là thống nhất. Quốc hội là cơ quan hiến định thống nhất các quyền nhưng không trực tiếp thực thi cả ba quyền. Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là do nhân dân lập ra và nguồn gốc quyền lực của Nhà nước là từ nhân dân. hành pháp.

việc thực hiện quyền lực nhà nước theo phương thức nào. Ba hệ thống cơ quan này đối trọng với nhau và chế ước lẫn nhau. Nhà nước không thể thay thế cho thị trường nhưng nó có thể tác động một cách có hiệu quả đến mọi hoạt động của nền kinh tế thị trường. Về vai trò Nhà nước trong nền kinh tế thị trường Cuộc chuyển đổi từ nền kinh tế chỉ huy sang nền kinh tế thị trường đòi hỏi không chỉ cải cách kinh tế mà cả cải cách chính trị. Toà án nhân dân tối cao. Thế nhưng. thông thường nghị viện được phân thành thượng viện và hạ viện có nhiệm kỳ khác nhau. Chính phủ. nhân dân là chủ nhân của quyền lực chính trị. có quyển kiến nghị chương trình xây dựng pháp luật hàng năm của Quốc hội… Tóm lại. hành pháp và tư pháp. Tuy nhiên. Mục đích của cải cách là xây dựng một thể chế nhằm đảm bảo những lĩnh vực cần thiết phải có sự điều tiết của Nhà nước cũng như những lĩnh vực có thể hạn chế sự can thiệp đó. chỉ đến cuối thế kỷ XX thì câu trả lời cho sự phân tranh nói trên mới trở nên rõ ràng: mô hình của nền kinh tế chỉ huy đã thất bại trong việc duy trì tăng trưởng. Chẳng hạn các quyền cơ bản của công dân được cơ quan lập pháp ghi nhận trong hiến pháp. quyền hành pháp thuộc về Tổng thống và Chính phủ. Vấn đề đặt ra là. không thể không có sự điều tiết của Nhà nước trong quá trình xây dựng thể chế kinh tế mới. nên không có sự thống nhất này. nền kinh tế thị trường lại tỏ ra thành công ở nhiều nước từ Tây Âu đến Bắc Mỹ và cả Châu Á nữa. sẽ được cơ quan hành pháp triển khai thực thi trong thực tiễn và được cơ quan tư pháp bảo vệ. . Viện kiểm sát nhân dân tối cao tuy không có quyền ban hành các đạo luật nhưng có quyền trình dự án luật ra trước Quốc hội. Cũng vì thế mà cải cách chính sách Nhà nước trở thành vấn đề cấp thiết ở tất cả các nước đang thực hiện sự chuyển đổi thể chế kinh tế. quyền lực nhân dân là cội nguồn của quyền lực nhà nước. Trong chế độ ta. Trong khi đó. nếu thị trường và hệ thống thị trường là hiệu quả thì sao Nhà nước vẫn phải can thiệp vào các hoạt động của nó? Tại sao không thực hiện một chính sách để tư nhân được hoàn toàn tự do kinh doanh? Trả lời vấn đề này. quyền tư pháp thuộc về Toà án. thì quyền lập pháp thuộc về Nghị viện. Theo cơ chế phân chia quyền lực của thuyết “tam quyền phân lập”. Việc phân công thực hiện quyền lực nhà nước ở nước ta luôn gắn liền với sự phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp.phải chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác trước Quốc hội. mô hình kinh tế thị trường vẫn là cái gì đó chưa thuyết phục và chưa được mọi nước chấp nhận một cách dễ dàng. trong việc tạo ra sự phồn vinh và thậm chí cả trong việc nâng cao đời sống nhân dân. tập quyển hay phân quyền là phụ thuộc vào bản chất của chế độ xã hội đương thời. Trong bài viết này. Thế kỷ XX đã chứng kiến cuộc đua tranh giữa hai hệ thống kinh tế. nói đúng hơn là hai giải pháp vĩ mô đối lập nhau: nền kinh tế chỉ huy dựa trên sự kiểm soát tập trung của Nhà nước và nền kinh tế thị trường dựa vào thành phần kinh tế tư nhân. chúng tôi tập trung phân tích một số lĩnh vực quan trọng. có thể khẳng định rằng. Ở các nước tư sản thực hiện cơ chế phân chia quyền lực. Quyền lực đó chỉ có thể thực hiện một cách thống nhất dưới sự giám sát của nhân dân chứ không thể phân chia.

tính không loại trừ (nonexcluđability) và tính không thể không tiêu dùng mà tựu trung lại. Có nhiều ví . Tuy nhiên. củng cố an ninh quốc phòng. hàng hoá công cộng là thứ hàng hoá không thể định giá chính xác được. để đảm bảo tính chỉnh thể của nền kinh tế và để cung cấp những dịch vụ phúc lợi. ngoại trừ trong các lý thuyết kinh tế. Trong các nền kinh tế thị trường đã Phát triển. chống ô nhiễm môi trường. từ ngân sách Nhà nước có được thông qua thuế. Hàng hoá công cộng có ba đặc tính: tính không kình địch trong tiêu dùng. quản lý và điều hoà phúc lợi. Các nền kinh tế thị trường nguyên thuỷ dựa trên cơ sở sản xuất và trao đổi giản đờn có thể hoạt động một cách có hiệu quả mà không cần sự can thiệp của Nhà nước. bởi tất cả mọi người tiêu thụ các dịch vụ quốc phòng một cách đồng thời. cung cấp hàng hoá công cộng. Đấy là nguyên nhân chính giải thích vì sao quốc phòng phải do Nhà nước điều hành và chi phí cho quốc phòng phải được lấy từ nguồn tài chính công. Điều đó được quyết định bởi quốc phòng là một kiểu hàng hoá hoàn toàn khác hẳn với các loại hàng hoá vật thể khác ở chỗ. Tuy nhiên.Lịch sử đã chứng minh rằng. tất cả mọi người đều có nghĩa vụ và quyền lợi tiêu dùng hàng hoá công cộng như nhau. Quả thực. Đơn giản là không thể có chuyện dịch vụ quốc phòng lại được đem rao bán cho những người cần hoặc không thực hiện bảo vệ an ninh quốc gia. người ta không trả tiền cho mỗi đơn vị sử dụng mà mua nó như một tổng thể nhằm mục đích bảo vệ an ninh của cả một quốc gia. các nền kinh tế thị trường thành công nhất đều không thể phát triển một cách tự phát nếu thiếu sự can thiệp và hỗ trợ của Nhà nước. Quốc phòng là một ví dụ chứng tỏ vai trò tối quan trọng của Nhà nước. song sự điều tiết của Nhà nước vẫn là một trong các hoạt động của nền kinh tế thị trường. bảo vệ cho một cá nhân không có nghĩa là giảm bảo vệ cho người khác. Các loại hàng hoá kiểu như vậy được gọi là hàng hoá công cộng. khi khẳng định sự cần thiết phải có sự can thiệp của Nhà nước thì cũng cần cân nhắc kỹ lưỡng tời cái được . tiêu dùng các hàng hoá công cộng. Hơn nữa. Nhà nước có một vai . Mặc dù còn có những hạn chế nhất định. cho nên tư nhân không thể cung cấp. phát triển giáo dục tăng thu nhập và nâng cao phúc lợi xã hội. thể hiện nhưng khuyết tật của thị trường. định hướng cạnh tranh một cách có hiệu quả bằng cách giảm độc quyền… 1. thị trường tự do với đúng nghĩa của nó không thể tồn tại.trò chính đáng và thường xuyên trong các nền kinh tế hiện đại Vai trò đó của Nhà nước đặc biệt thể hiện rõ rệt ở việc xác định "các quy tắc trò chơi" để can thiệp vào những khu vực cần có sự lựa chọn. vì nền kinh tế tăng trưởng dưới tác động bên ngoài ngày một phức tạp nên sự can thiệp của Nhà nước xuất hiện như một tất yếu cho sự hoạt động có hiệu quả của nền kinh tế thị trường. Nhà nước có 3 chức năng kinh tế rõ rệt là: can thiệp. Vai trò của Nhà nước trong quốc phòng và trong việc sản xuất. bởi không một doanh nghiệp tư nhân nào có thể bán quốc phòng của toàn dân cho các công dân riêng lẻ và coi đó là nghề kinh doanh thu lãi. Theo đó. Cách giải quyết không phải là bỏ mặc thị trường. cho những người từ chối chi trả kinh phí cho quốc phòng. mà phải là nâng cao hiệu quả của sự can thiệp đó. Ở đây. tạo dựng một bộ khung xã hội được sự điều hành của luật pháp.cái mất của sự can thiệp ấy. không thể phủ nhận vai trò của Nhà nước trong các lĩnh vực như: ổn định kinh tế vĩ mô thông qua chính sách tài chính và tiền tệ.

một nền kinh tế không thể "cất cánh" được trừ phi nó có được một cơ sở hạ tầng vững chắc. nên các phí tổn sản xuất không được tính đến trong hệ thống giá. Đặc điểm của nền kinh tế thị trường là sự bất ổn định do các cuộc khủng hoảng chu kỳ. gây ra sự giảm sút về phúc lợi cho nhưng người khác. Trong nền kinh tế thị trường tự do. Nhà nước còn sử dụng cả chính sách quyền sở hữu công khai nguồn tài nguyên. Vì thế.dụ về hàng hoá công cộng. Vì phía thứ ba không được đền bù cho những khoản chi phí ngoại vi. Những yếu tố này gây nên sự giảm sút về phúc lợi của những người dân sống xung quanh hoặc có thể buộc những nhà máy khác gần đó phải tốn kém thêm chi phí để làm sạch nước sông đã bị ô nhiễm mà mình phải sử dụng trong sản xuất. mức hình phạt. Do chỗ toàn bộ chi phí xã hội là cái quan trọng quyết định sự phân bố tài nguyên một cách có hiệu quả. và nhưng chi phí hay lợi ích ngoại vi sẽ không được phản ánh trong giá cả của các đồ vật. Bằng sự can thiệp. Vai trò của Nhà nước đối với các yếu tố ngoại vi Yếu tố ngoại vi là các ảnh hưởng tốt hay không tốt do các yếu tố bên ngoài gây nên cho hoạt động của công ty hay cho xã hội nói chung. người ta chỉ mưu toan sử dụng tối đa những phương tiện hay lợi nhuận riêng của mình. người sử dụng nguồn tài nguyên này nếu gây ô nhiễm sẽ phải chịu chi phí theo giá thị trường. điều lệ. Các khoản thuế hay biện pháp trợ cấp tối ưu đều được coi là phương thức để Nhà nước xứ lý những yếu tố ngoại vi. Tuy nhiên. Do vậy. Những chi phí ngoại vi cho sản xuất bao gồm: sự tắc nghẽn giao thông và ô nhiễm môi trường mà nhà máy hoặc xí nghiệp sản xuất tạo ra. Yếu tố ngoại vi xảy ra khi có sự khác biệt về phí tổn hoặc lợi ích giữa cá nhân và xã hội. cho nên vai trò của Nhà nước là tạo ra sự thăng bằng giữa cá nhân và xã hội thông qua việc điều chỉnh sản xuất thừa hoặc tiêu dùng thừa vào chi phí ngoại vi. Nhưng cũng do tính không thể phân chia của hàng hoá công cộng mà các tư nhân thấy rằng đầu tư vào đây không có lợi. từ các biện pháp chống lũ lụt cho đến việc phòng chống vũ khí nguyên tử. còn những chi phí tư nhân quyết định giá hàng. Nhà nước buộc tất cả những ai hưởng lợi từ sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đều phải trả toàn bộ chi phí sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ấy. trường hợp một nhà máy có thể làm ra một loại sản phẩm rất rẻ nhưng lại làm ô nhiễm môi trường. Nếu không các nguồn lực sẽ không được phân bố hiệu qua. Và do vậy. 2. Ví dụ. Tuy nhiên. Nhà nước có thể sử đụng một hệ thống thuế. Ngoài ra.. . Thật vậy.. Vì những khó khăn này. nhưng hai ví dụ có thể thấy rõ vai trò của Nhà nước một cách trực tiếp và thường xuyên nhất. Nhà nước không dễ dàng quyết định chính xác chi phí ấy là bao nhiêu. Sự ổn định kinh tế rõ ràng là điều mà mọi Nhà nước đều mong muốn và nó có lợi cho tất cả mọi người. vì không thể định lượng một cách chính xác tác hại mà sự ô nhiễm ấy có thể gây ra cho xã hội. thậm chí cả mức truy tố để nhằm giảm ô nhiễm. Nhà nước bỏ vốn vào đầu tư cơ sở hạ tầng. các chi phí hoặc lợi ích này (chi phí ngoại vi hoặc lợi ích ngoại vi) lại không được tính đến trong hệ thống giá cả và thị trường. chính Nhà nước phải chịu trách nhiệm duy trì sự ổn định đó trên tầm vĩ mô. Nhà nước cần phải đảm bảo chi phí giảm ô nhiễm không được cao hơn so với chi phí mà ô nhiễm gây ra cho xã hội. ổn định kinh tế vĩ mô cũng có thể xem như là hàng hoá công cộng. luật pháp. vai trò kinh tế của Nhà nước là điều chỉnh lại sự bất hợp lý này. ở hầu hết các nước. đó là xây dựng cơ sở hạ tầng và ổn định kinh tế vĩ mô.

kho chứa và các sản phẩm hữu hình khác. phim ảnh. 4. chẳng hạn như sách. Đây là một sự can thiệp rất quan trọng của Nhà nước trong việc bảo vệ bản quyền tác giả và qua đó. nghĩa là không có sự thực thi của luật pháp thì các giao dịch trên thị trường trở nên khó mà có thể thực hiện. bào chế thuốc hay chương trình phần mềm. Đó là lý do tại sao Nhà nước cần phải có lưu trữ văn bản. sáng chế. Nhà nước trong các nền kinh tế thị trường cần phải thiết lập và bảo vệ quyền sở hữu tư nhân. Cả người mua lẫn người bán đều muốn là khi cả hai phía đã đồng ý trao đổi thì sự thoả thuận nhất định phải được thực hiện. Thế nhưng. chứng từ về đất đai. cần chú ý tới giáo dục bởi đây là lĩnh vực cần phải có sự quan tâm và hỗ trợ của Nhà nước. sự bảo hộ đó còn được áp dụng cho cả các sở hữu liên quan tới trí tuệ. tiền lương với chủ sử dụng lao động. Vai trò của Nhà nước trong chính sách cạnh tranh Vai trò này thể hiện ở tập hợp những biện pháp của Nhà nước nhằm cổ vũ cạnh tranh giữa các nhà cung ứng với nhau. hội họa. một số người sẽ gặp phải những rủi ro nếu đầu tư thời gian và tiền vốn của mình vào lĩnh vực kinh doanh mà rốt cuộc. nền kinh tế thị trường đòi hỏi một loạt thể chế phát triển cao. sự can thiệp cửa Nhà nước là cần thiết. vì trong khi chi phí ngoại vi có thể dẫn đến sản xuất thừa thì ngược lại. Ở đây. thiết kế. trong các nền kinh tế thị trường không có gì bảo đảm để không diễn ra bạo lực và gian lận. lợi ích ngoại vi lại có thể dẫn đến sản xuất thiếu. Nếu không có sự đảm bảo ấy. nhà máy. khuyến khích việc phát huy khả năng trí tuệ của họ. Phạm vi của một chính sách như vậy bao gồm: kiểm soát bằng các biện pháp điều tiết đối với những hãng có khả năng chi phối. cung như quyền được hưởng các lợi ích kinh tế xuất phát từ việc sử dụng quyền sở hữu đó. 3.. Nếu như không có sự đảm bảo cho các thoả thuận ấy. khuyến khích những hoạt động sáng tạo của các nhà khoa học. Nhà nước cần xem xét vấn đề trợ cấp tối ưu để khuyến khích sản xuất.. kiểm soát các hành vi chống cạnh tranh. đảm bảo các hợp đồng mua bán tất cả các loại sản phẩm. kiểm soát các vụ việc sát nhập công ty nhằm ngăn ngừa khả năng độc quyền hoá các ngành công nghiệp. tiền lãi thu về lại có thể rơi vào Nhà nước hoặc các tập đoàn khác. nhà ở. đồng thời bảo vệ người tiêu dùng chống lại tình trạng độc quyền. Sự bảo hộ của Nhà nước đối với sở hữu tư nhân thể hiện một cách rõ ràng đối với đất đai. hồ sơ. Vai trò của Nhà nước trong việc tạo dựng bộ khung xã hội và luật pháp Để thực hiện đúng đắn chức năng phân phối của mình.Trong các lợi ích ngoại vi. Ngoài ra. . công xưởng. Người lao động đã với tư cách cá nhân hay tập thể trong các tổ chức hiệp hội cũng đều có sự thoả thuận nhất định về điều kiện làm việc. Tình hình đó cũng giống như đối với quan hệ giữa người chủ và người làm công. các nghệ sĩ. phát minh. trong đó có hệ thống pháp lý để chống lại bạo lực và gian lận bao gồm: hệ thống có liên quan tới những quyền sở hữu. bài viết. những điều luật về phá sản và khả năng thanh toán. tiêu dùng loại sản phẩm này sao cho giá trị đích thực các lợi ích ngoại vi được tính đến trong hệ thống giá thị trường. hệ thống tài chính với ngân hàng trung ương và các ngân hàng thương mại để giữ cho việc cung cấp tiền mặt được thực hiện một cách nghiêm ngặt… Thật vậy. trong chừng mực một sán phẩm nào đó có thể tạo ra được lợi ích ngoại vi.

cái giá tiềm tàng cho phép các Công ty lớn (hoặc một nhóm các Công ty cấu kết với nhau) giành được vị trí độc quyền trong các ngành công nghiệp chủ chốt là rất cao. Nguồn thu nhập đó có thể do thừa hưởng gia tài. thật đáng tiếc. đồng thời khống chế việc thâm nhập vào thị trường của các Công ty nhỏ hơn đang cạnh tranh với họ. côta. 5. Song. nhiều khi sự kiểm soát của chính phủ và chính sách chống độc quyền trên thực tế lại dẫn đến giảm cạnh tranh chứ không phải là khuyến khích cạnh tranh.. Hai là.. ý kiến ngược lại cho rằng. Do vậy. có thể thu hẹp lại khoảng cách giàu . các nhà kinh tế đều thừa nhận rằng. đều thông qua đạo luật chống độc quyền. Rõ ràng. Các vấn đề như việc làm. có thể do tài năng hoặc sự thành đạt trong kinh doanh hay trong các quan hệ chính trị. tình hình sẽ trở nên nan giải khi một ngành công nghiệp bị chi phối bởi một số rất ít các Công ty lớn. trong khi đó. xoá đói. bảo hiểm y tế. ý kiến ủng hộ vai trò của Nhà nước trong việc hạn chế sự tập trung tài sản và duy trì sự lan toả các năng lực kinh tế giữa cá chủ sở hữu. giảm nghèo. áp đảo thị trường với mức giá cao. Trong hầu hết các nền kinh tế thị trường. Tất cả những cái đó đã hạn chế việc nhập khẩu hàng hoá và địch vụ từ nước ngoài. sức khoẻ. điều bàn cãi không còn là ở chỗ Nhà nước có nên tạo ra quỹ phúc lợi hay không. 6. Ở đây có hai ý kiến trái ngược. nhằm thu nhiều lợi nhuận.. Một là. Thông thường. đặc biệt là thuế thu nhập nhằm tạo ra sự công bằng hơn trong phân phối. có nên thực hiện phân phối lại thông qua thuế thu nhập hay không. Tuy nhiên.. Trên thực tế. khả năng kiếm sống ở một số người là rất hạn chế.. Các công ty này có thể cấu kết với nhau thành một tập đoàn hùng mạnh. hầu hết các nền kinh tế thị trường. . Do vậy. Vai trò của Nhà nước trong các chính sách tài chính và tiền tệ Nhà nước trong các nền kinh tế thị trường đóng một vai trò rất lớn trong việc tạo ra các điều kiện kinh tế để thị trường tư nhân có thể phát huy hết hiệu quả hoạt động của mình.. Giá đó đủ lớn đề thừa nhận vai trò nhất định của Nhà nước trong việc điều tiết để duy trì cạnh tranh thông qua một hệ thống đạo luật không ngừng được củng cố. giảm đầu tư và do đó sẽ gây nên tổn hại lớn tới cả một nền kinh tế. kể cả Mỹ. Tuy nhiên. vai trò của Nhà nước là không thể thiếu được trong việc phân phối lại thu nhập để trong chừng mực cho phép. Để ngăn chặn tình trạng cấu kết. Nhà nước có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao phúc lợi công cộng. số khác lại có nguồn thu nhập rất lớn. chính sách của Nhà nước về vấn đề cạnh tranh không phải không có điều bất cập. độc quyền và để duy trì cạnh tranh lành mạnh một cách có hiệu quả. trong các nền kinh tế thị trường. chương trình phân phối lại của Nhà nước thông qua thuế thu nhập sẽ làm cho người lao động giảm động cơ làm việc để tăng thu nhập. xã hội. thuế. mà là mức độ thực hiện ra sao để vẫn có thể khích lệ được mọi thành phần lao động trong việc tạo ra của cải và tiết kiệm trong việc chi dùng những của cải ấy.Nói tới độc quyền là nói tới thị trường chỉ có một người cung cấp.nghèo trong xã hội. Các chính sách này bao gồm: giấy phép độc quyền sản xuất một loại hàng hoá và dịch vụ nào đó. các chính phủ đều luôn thực hiện điều đó thông qua chính sách thuế. lương hưu. giảm tiết kiệm. trợ cấp khó khăn… luôn là những vấn đề rất cần đến sự quan tâm của Nhà nước. ý kiến đầu tiên đã giành được nhiều sự ủng hộ hơn của xã hội. Vai trò của Nhà nước đối với vấn đề thu nhập và phúc lợi Trong nền kinh tế thị trường.

các nền kinh tế thị trường luôn rơi vào tình trạng bị đe doạ bởi khi thì đồng tiền tăng giá đột ngột. Ngày nay. nếu có tăng thì cũng rất chậm. khi thì nạn thất nghiệp tăng cao. Chính sách tài chính được điều hành một cách độc lập với chính sách tiền tệ là chính sách nhằm điều tiết hoạt động kinh tế bằng cách kiểm soát việc cung ứng tiền. Khi tăng chi tiêu vào thời điểm thất nghiệp cao và lạm phát thấp. cả chỉ tiêu lẫn giá cả đều có xu hướng giảm hoặc ít nhất. nhờ đó ngân hàng mới có nhiều điều kiện cho vay và chi tiêu cho tiêu dùng được tăng lên. Tuy nhiên. Còn trong những thời kỳ kinh tế "quá nóng". Bởi vì. chính phủ có thể rơi vào tình trạng tiến thoái lưỡng nan. Tình trạng này đã xảy ra . đảm bảo công ăn việc làm. Đó là khó xác định chính xác thời điểm của vấn đề cần giải quyết để từ đó. các chính sách tài chính và tiền tệ đều điều chỉnh lại mức chi tiêu của cả một nền kinh tế quốc dân.Một trong các vai trò đó là tạo ra một thị trường tiền tệ ổn định. kém hiệu quả và đồng thời có khả năng duy trì giá trị tiền tệ thông qua các chính sách hạn chế lạm phát. vừa có tình trạng lạm phát. nhưng lại không thể đối phó với sự giảm đột ngột về cung . Trong những thời kỳ kinh tế suy giảm. Nhà nước đã tăng cung ứng tiền. trừ các trường hợp liên quan tới thiên tai và thảm hoạ chiến tranh.một nhân tố có thể đẩy nhanh cả lạm phát lẫn thất nghiệp. như thuế thu nhập luỹ tiến và phụ cấp thất nghiệp. ổn định giá cả và tăng trưởng liên tục của nền kinh tế. Điều đó có nghĩa là kích cầu vì tiêu dùng là bộ phận cấu thành lớn nhất và ổn định nhất của tổng cầu. giảm thuế. các chính sách này đã trở thành giải pháp hữu hiệu để khắc phục lạm phát và giải quyết việc làm. đưa ra các biện pháp. Trong những trường hợp như thế. giảm cung ứng tiền. chính sách hỗn hợp cho phù hợp. Trong lịch sử. Lãi suất thấp. đồng thời khuyến khích đầu tư. Ngoài ra. Chính sách tài chính bao gồm các chính sách thuế và chi tiêu ngân sách của Nhà nước nhằm điều tiết chu kỳ kinh tế. kéo dài không lâu khoảng một năm hoặc ngắn hơn. chính sách tài chính và tiền tệ không được áp dụng rộng rãi để ổn định các chu kỳ kinh doanh. lịch sử vẫn chưa quên thời kỳ trầm trọng của siêu lạm phát ở Đức những năm 20. Trong thời kỳ lạm phát cao và thất nghiệp thấp thì ngược lại. các chính sách ổn định kinh tế vĩ mô tỏ ra không cần thiết và thậm chí có khi còn phản tác dụng. Để cân bằng lại những biện pháp tài chính cố ý này. khi cả thế giới lâm vào tình trạng thất nghiệp. chính sách tài chính có tác dụng kích cầu và sản xuất bằng cách Chính phủ tăng mua. thuê thêm công nhân. các chủ doanh nghiệp có thể mở rộng sản xuất. được chấp nhận rộng rãi. Cùng với việc giảm tiền và tăng lãi suất. chính phủ làm ngược lại. đặc biệt cuộc đại suy thoái kinh tế thế giới những năm 30 của thế kỷ XX. Những tác động của nó chưa ro ràng khi cả lạm phát và thất nghiệp xảy ra đồng thời. khi thì vừa có tình trạng thất nghiệp. dẫn tới giảm lãi suất (tức giám giá đồng tiền). Điều thật tai hại là có khi đến lúc chính sách Nhà nước phát huy tác đụng thì khó khăn ban đầu đã tự giải quyết xong và đang chuyển sang một hướng hoàn toàn khác hẳn. Mặc dù các giai đoạn đó thường diễn ra nhẹ nhàng. Trước năm 1960. do đó tạo ra được một thu nhập quốc dân khả dụng lớn hơn để đưa vào luồng tiêu đùng. thời gian chờ đợi các chính sách phát huy tác dụng không phải là ngày một ngày hai. Nhà nước “làm nguội" nền kinh tế bằng cách tăng lãi suất. có khả năng loại bỏ hệ thống giao dịch cồng kềnh. và kết quả là thu hẹp lại sản lượng và việc làm. Nhà nước tạo ra nhưng cái gọi là cơ chế ổn định. Có một vài nguyên nhân cho sự hạn chế này. Khi cả thất nghiệp và lạm phát xảy ra đồng thời.

song điều đó không có nghĩa là Nhà nước có thể bao biện. Đặc biệt Nhà nước trong một nền dân chủ là công cụ có thể làm dịu đi phần lớn những tác động tiêu cực của hệ thống thị trường.xã hội và mở rộng nền dân chủ cũng chính là nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế -xã hội. Từ rất sớm.Phát huy vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay chính là cách thiết thực góp phần bảo đảm công bằng xã hội. dẫu Nhà nước không thể cung cấp phương thuốc bách bệnh trong cuộc đấu tranh muôn thuở với lạm phát và thất nghiệp trong các nền kinh tế thị trường thì nó vẫn được coi là nhân tố tích cực trong việc điều hoà các ảnh hưởng của chúng.xã hội do khủng hoảng đó gây ra. Để đối phó với cú sốc cung này đối với nền kinh tế quốc dân. Đảng ta nhấn mạnh sự cần thiết phải “bảo đảm vai trò quản lý. Và. chúng ta mới thấy tính phi lý của cái gọi là “thị trường tự do”. Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một trong những vấn đề căn bản của triết lý phát triển ở Việt Nam hiện nay. không thể thiếu được trong một nền kinh tế. sự giảm cung sẽ dẫn đến tình trạng giá cả tăng nhanh trong khi đó thì sản xuất và việc làm lại giảm. Không phải đến khi khủng hoảng tiền tệ xuất phát từ Mỹ năm 2008 gây ảnh hưởng lan tỏa ra hầu khắp thế giới như hiện nay. trong khi vẫn duy trì được quyền sở hữu và quyền tự do. tăng hiệu quả cạnh tranh băng cách giảm sự độc quyền. mà còn xuất phát từ tính đặc thù của . hoặc mức độ làm được không thể hoàn hảo bằng sự can thiệp của Nhà nước. chính hệ thống chính trị dân chủ có thể đóng góp hiệu quả nhất vào hoạt động của nền kinh tế thị trường. cho dù Nhà nước là tác nhân quan trọng. khắc phục các cuộc khủng hoảng kinh tế . sự điều hành của Nhà nước đối với quá trình phát triển kinh tế. điều tiết nền kinh tế của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”(1). Như vậy.xã hội của dân tộc trong thời kỳ hội nhập toàn cầu. có thể nói. Những vấn đề được phân tích ở trên chính là những lĩnh vực mà Nhà nước có thể phát huy đầy đủ nhất vai trò điều tiết của mình. dẫn tới giá cả tăng nhanh trong nền kinh tế các nước công nghiệp hoá. khắc phục sự trì trệ và kìm hãm của các nguồn lực quan trọng.vào những năm 70 của thế kỷ XX. Kiên trì tư tưởng đó. Nói cách khác. Trong xã hội hiện đại. Nhà nước có thể tăng cường các biện pháp khuyến khích sản xuất. cùng những giải pháp cơ bản mà các nước đang sử dụng với hy vọng ngăn ngừa những kết cục bi thảm về mặt kinh tế . Vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay TCCS . Như vậy. Hầu hết các nhà kinh tế hiện nay đều thừa nhận tầm quan trọng của Nhà nước trong cuộc đấu tranh chống lạm phát và thất nghiệp thông qua các chính sách ồn định dài hạn. vai trò của Nhà nước đối với kinh tế không chỉ xuất phát từ yêu cầu phổ biến của quá trình phát triển kinh tế thị trường. khi có lệnh đình chỉ xuất khẩu đầu của các nước sản xuất dầu. văn minh của đất nước. làm thay cho tất cả các hoạt động thị trường. vì sự phát triển dân chủ. chúng ta đã khẳng định. tại Đại hội X. Ở Việt Nam hiện nay. tiết kiệm và đầu tư. song vẫn giữ được bản sắc chính trị . nền kinh tế mà chúng ta đang xây dựng phải có sự quản lý của Nhà nước. “bàn tay vô hình”. Nhà nước chỉ nên chú trọng tới những lĩnh vực mà thị trường không thể làm được.

xã hội và được triển khai bằng Nhà nước. nhân tố sâu xa bảo đảm định hướng chính trị đối với kinh tế là đường lối. Tính đúng đắn. từ đó mà có ổn định xã hội cho phát triển và . chính sách để bảo đảm sự ưu tiên đó. chính đáng của người lao động là một vấn đề có tính nguyên tắc. Đương nhiên. sở hữu tư nhân). Trên lĩnh vực phân phối: Nhà nước vừa thông qua hệ thống chính sách kinh tế do mình hoạch định. của Nhà nước và nhân dân ta) là ở chỗ. tư tưởng chỉ đạo của Đảng Cộng sản cầm quyền. thông qua Nhà nước. hoạch định các chính sách xóa đói. Là những công cụ tạo ra sự đồng thuận xã hội. thì việc ưu tiên bảo vệ lợi ích hợp pháp. Nhà nước thông qua hệ thống chính sách. “ổn định” ở đây thể hiện sự cân đối.. can thiệp vào lĩnh vực phân phối và phân phối lại theo hướng ưu tiên phân phối theo lao động và qua phúc lợi xã hội. ba hình thức sở hữu (hình thức sở hữu nhà nước. lợi ích giữa người và người.để định hướng. hợp lý và kịp thời của việc hoạch định và năng lực tổ chức thực hiện các chính sách phát triển vĩ mô do Nhà nước đảm nhiệm là điều kiện tiên quyết nhất hình thành sự đồng thuận đó. kết hợp tăng trưởng kinh tế với thực hiện công bằng xã hội. cùng với việc bảo đảm lợi ích hợp lý của doanh nhân.. quan điểm. chúng mang tính khách quan. pháp luật.xã hội của Nhà nước chỉ đúng. Thị trường. định hướng chủ quan (ý chí của Đảng. Xét ở mặt này. Nhà nước có cơ chế. Xét từ giác độ đó. Nhà nước có vai trò to lớn trong việc bảo đảm sự ổn định vĩ mô cho phát triển và tăng trưởng kinh tế. Trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. hình thức sở hữu tư nhân) là một đòi hỏi khách quan của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay. kinh tế thị trường là một kiểu quan hệ giữa người với người trong sản xuất. giám sát. kiểm tra việc thực hiện các kế hoạch phát triển của doanh nghiệp. quan điểm. để đường lối. Đặc biệt. hài hòa các quan hệ nhu cầu. lấy quy luật thị trường làm cơ sở. tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động trực tiếp hay thông qua các khâu trung gian nhất định tham gia quá trình hoạch định. nên cũng có mặt chủ quan. trong sự phát triển kinh tế thị trường ở nước ta. kế hoạch phát triển kinh tế . đòn bẩy kinh tế để định hướng. đền ơn đáp nghĩa. dưới sự quản lý của Nhà nước do Đảng lãnh đạo.trực tiếp là bộ phận kinh tế nhà nước . tạo ra sự đồng thuận xã hội trong hành động vì mục tiêu phát triển của đất nước. tổ chức.nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. tư tưởng chỉ đạo của Đảng biến thành hiện thực vận động của nền kinh tế. Pháp luật. giảm nghèo. Nhưng chúng lại là sự thể chế hóa. hình thức sở hữu tập thể. nên mang đậm dấu ấn của quan hệ xã hội. sự phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay bị chi phối và nhằm phục vụ cho định hướng xã hội chủ nghĩa. cụ thể hóa mục tiêu chính trị của Đảng. Bài viết này chỉ tập trung vào khía cạnh thứ hai vừa nêu. Song... Trên lĩnh vực quản lý: Nhà nước xây dựng cơ chế. trao đổi và tiêu dùng. kinh tế nhà nước cùng kinh tế tập thể tạo thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân. khi chúng phản ánh chính xác yêu cầu phát triển khách quan của thị trường. Nhà nước có tác động trực tiếp nhất tới việc định hướng sự vận động của kinh tế thị trường. vừa sử dụng các nguồn lực . chính sách. làm cho kinh tế nhà nước từng bước vươn lên nắm vai trò chủ đạo. thể hiện ở cả ba lĩnh vực kinh tế cơ bản sau: Trên lĩnh vực sở hữu: Sự tồn tại của ba chế độ sở hữu (sở hữu toàn dân. chương trình. sở hữu tập thể. Với mức độ đáng kể. của thể chế chính trị mà nền kinh tế đó tồn tại. chúng phải được thể chế hóa thành hệ thống pháp luật. kế hoạch phát triển kinh tế . chương trình.

mặt khác. một mặt. Một trong những mục tiêu của quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà Nhà nước hướng tới là xóa bỏ tình trạng vi phạm công bằng xã hội. pháp luật của Nhà nước. như tạo lập kết cấu hạ tầng kinh tế cho sản xuất. Nhà nước chủ động tham gia kinh tế thị trường nhằm bảo hộ cho hình thức tổ chức sản xuất chứa đựng các yếu tố của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa và tạo điều kiện cho chúng phát huy ưu thế của mình. Có chính sách xã hội hợp lý. pháp luật kinh tế không gây ra những biến đổi trong hiện thực kinh tế.. Nhà nước ta cũng có vai trò to lớn trong việc bảo đảm gia tăng phúc lợi xã hội. điều quan trọng nhất là Nhà nước tạo lập khung khổ pháp lý cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra hiệu quả. công bằng xã hội được thể hiện đầy đủ ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển kinh tế là một nhiệm vụ cơ bản của Nhà nước ta trong việc thực hiện chức năng phát triển.ngang nhau cho sự phát triển đất nước thì được hưởng ngang nhau. đúng đắn. nhà nước góp phần cung cấp thông tin thị trường cho các chủ thể kinh tế để các chủ thể này chủ động lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh. nghề. khai thác những cơ quan truyền thông mạnh nhất của quốc gia. bảo đảm phúc lợi ngày một gia tăng nhờ hiệu quả tác động của chính sách kinh tế tiến bộ do Nhà nước hoạch định và tổ chức thực hiện bằng những nỗ lực của nhiều chủ thể kinh tế khác nhau. tự nó. của sự phát triển và tăng trưởng kinh tế bền vững nói riêng.. ngăn chặn các xu hướng phát triển kinh tế không có lợi cho quảng đại người lao động. lợi ích cụ thể của các chủ thể đó. càng có tác động tích cực tới sự vận hành của nền kinh tế bấy nhiêu. thời điểm thực ... tạo lập sự phân công lao động theo ngành. Hệ chuẩn pháp luật kinh tế của nhà nước càng được xây dựng đồng bộ.. văn minh”. tạo vị thế cho kinh tế nhà nước có sức mạnh định hướng xây dựng mô hình kinh tế cho phép giải phóng con người. lưu thông hàng hóa. dân chủ. phải tôn trọng tính đa dạng về nhu cầu. đối tác kinh tế. Từ đó. Chỉ duy nhất nhà nước có được chức năng này. là nhân tố có vai trò quyết định trong vấn đề này. vùng kinh tế qua việc nhà nước tiến hành quy hoạch phát triển kinh tế theo lợi thế từng vùng. nước mạnh. chúng phải được đưa vào vận hành. bởi mục tiêu căn bản của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là góp phần thực hiện “dân giàu. Đây là một nhiệm vụ lâu dài. công bằng xã hội trên lĩnh vực kinh tế được biểu hiện không chỉ ở chỗ lao động ngang nhau thì được hưởng thụ ngang nhau. tăng trưởng kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Năng lực điều hành kinh tế bằng pháp luật là một thước đo đánh giá sự trưởng thành và vai trò của nhà nước trong kinh tế. mà còn ở chỗ cống hiến . Ở nước ta hiện nay. Song. của mọi chủ thể kinh tế.. xã hội công bằng. Để cho các luật kinh tế trở thành tác nhân kích thích phát triển kinh tế.đóng góp cả về vật chất lẫn tinh thần trong quá khứ cũng như trong hiện tại . Công bằng xã hội là một động lực của sự phát triển xã hội nói chung. nhất quán và kịp thời bao nhiêu. ngành và nhu cầu chung của xã hội.tăng trưởng kinh tế. các chính sách. Là chủ thể trực tiếp sở hữu hoặc quản lý. Vai trò của nhà nước đối với sự phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng thể hiện ở việc nhà nước góp phần đắc lực vào việc tạo môi trường cho thị trường phát triển. Nhà nước chính là thiết chế chủ yếu đảm đương nhiệm vụ này. Để thực hiện các mục tiêu đó. phải phản ánh đúng những nhu cầu chung của xã hội. việc bảo đảm yêu cầu thực hiện tiến bộ..

Cùng với tác động của hệ thống luật kinh tế và sự đầu tư trực tiếp vào kinh tế. tư tưởng Hồ Chí Minh) làm một trong những . có chất lượng cho sản xuất kinh doanh. chính sách.. nhà nước góp phần khởi đầu và có tác động tích cực vào quá trình thiết lập quan hệ quốc tế... môi trường kinh doanh. dù tồn tại dưới nhiều loại hình khác nhau (công lập. xét về bản chất. được hỗ trợ đắc lực từ phía nhà nước. khi lợi ích chân chính mà nhà nước theo đuổi phù hợp với quy luật phát triển khách quan của xã hội nói chung.. các nghị định thư. giữa doanh nghiệp và các cơ quan công quyền. Sự kiện đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) thành công là chứng minh rõ rệt cho điều này. của kinh tế thị trường nói riêng. Việc nhấn mạnh vai trò của Nhà nước trong việc định hướng sự phát triển của nền kinh tế thị trường ở nước ta không mâu thuẫn với vấn đề có tính nguyên tắc: sự vận hành của nền kinh tế thị trường nào cũng trước hết và chủ yếu do các quy luật thị trường quyết định. chủ thể nhà nước có năng lực trí tuệ đủ tầm để nắm bắt.). Trong điều kiện cụ thể ở Việt Nam hiện nay. ngoài công lập. khi có tác nhân khởi thủy từ phía nhà nước. liên doanh. do dân. vận dụng yêu cầu của các quy luật kinh tế vào việc hoạch định các chính sách phát triển.. mọi loại hình kinh tế. Nhà nước ta là nhà nước của dân.trật tự. Ngoài những nỗ lực của nhà nước trong sự đồng tình của nhân dân. được thực hiện qua hệ thống giáo dục . hội nhập kinh tế quốc tế của mọi quốc gia chỉ có hiệu quả cao. nâng cao hiệu quả quản lý nền kinh tế. Bằng hệ thống chính sách giáo dục. Song. vì dân. Song. Đây là nhân tố có tác động trực tiếp thúc đẩy nền kinh tế thị trường vận động phù hợp với quy luật nội tại của nó. Nhà nước ta là chủ thể chính của nền giáo dục ... Nhà nước cụ thể hóa những yêu cầu đó thành luật. Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay.tiền tệ. chính sách thu nhập và việc làm.hiện các giao dịch kinh tế. Ở đây có sự thống nhất giữa khách quan và chủ quan. sự giao lưu kinh tế.đào tạo. Nhà nước ta có tác động rất mạnh và trực tiếp tới việc nâng cao năng lực sản xuất. chính sách đầu tư. các hiệp định kinh tế..Lê-nin. Tính khách quan của nó được thể hiện và thực hiện thông qua hoạt động có ý thức của con người. Muốn sản xuất phải có an toàn về môi trường xã hội.đào tạo do Nhà nước thống nhất quản lý. quy luật kinh tế thị trường lại thuộc lĩnh vực quy luật xã hội. Nhà nước ta góp phần tạo cho chủ thể kinh tế của đất nước vị trí có lợi trong quan hệ kinh tế quốc tế. Qua đó..xã hội. như chính sách tài chính . Bằng chính sách hội nhập đúng đắn và năng lực tổ chức thực hiện có hiệu quả chính sách đó. Nhà nước cung cấp nguồn lao động chính. Nhà nước còn định hướng nền kinh tế qua các công cụ gián tiếp là chính sách kinh tế. kế hoạch phát triển kinh tế . đào tạo của mình. môi trường an ninh . sự thống nhất đó chỉ có được. Nhà nước ta lấy hệ tư tưởng cách mạng và khoa học (chủ nghĩa Mác . lấy lợi ích của dân tộc đáp ứng đúng nhu cầu phát triển khách quan của xã hội làm mục tiêu hoạt động của mình. xác định đúng bước đi để hiện thực hóa chúng. cung cấp cán bộ quản trị doanh nghiệp cho mọi thành phần. không lực lượng nào khác có thể tạo lập được những yêu cầu an toàn như vậy. cách thức sản xuất kinh doanh có hiệu quả nhất trong điều kiện cụ thể của mình.. an toàn trong quan hệ giữa người và người. liên kết trong nước và với nước ngoài. Đại diện cho đất nước tham gia vào các quá trình soạn thảo và thông qua chuẩn mực luật pháp kinh tế. Dựa trên việc nhận thức đúng đắn những yêu cầu của các quy luật trong nền kinh tế thị trường.. nâng cao hiệu quả của kinh tế thị trường nói chung.

. xuất khẩu của khu vực này chiếm khoảng 50% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Nhà nước cũng có nhiều chính sách khai thác ngoại lực. Nhà nước đã có nhiều chính sách phát huy vai trò các nhân tố nội lực. Đó là hai nhân tố bảo đảm có sự thống nhất giữa tính khách quan của quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và việc phát huy vai trò của nhà nước xã hội chủ nghĩa với tư cách là một nhân tố chủ quan tác động tích cực tới sự phát triển của nền kinh tế đó. Năm 2008. Về nỗ lực nâng cao tích lũy từ nội bộ nền kinh tế: năm 1990.2 tỉ USD. trong đó.9%. năm 2007 đạt 8..000 cán bộ kỹ thuật. coi trọng tích lũy từ nội bộ nền kinh tế. cung cấp việc làm cho khoảng 50 vạn người và việc làm gián tiếp cho 2. Nhờ đó. thực thi các chính sách khắc phục tình trạng suy giảm kinh tế gần đây. tỷ lệ tích lũy so với GDP mới đạt 2..7% năm 2005. Một tiêu chí quan trọng đánh giá tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế là hướng sự phát triển của nó vào việc nâng cao đời sống của nhân dân. Năm 2007. 1996 . nhìn chung. Biểu hiện rõ nhất là Nhà nước đã hoàn thiện Luật Đầu tư. đào tạo được 8. GDP bình quân đầu người mới đạt 289 USD. Nhìn lại hơn 20 năm đổi mới. trong đó các dự án mới chiếm 60. Do vậy. FDI.cơ sở xuất phát quan trọng để hoạch định chiến lược phát triển kinh tế. tốc độ tăng trưởng kinh tế. biến ngoại lực thành nội lực cho sự phát triển. Năm 1995.31% lực lượng lao động được đào tạo. nhưng Việt Nam vẫn đạt mức tăng trưởng GDP là 6. Thực tiễn phát triển nền kinh tế thị trường hơn 20 năm đổi mới cho thấy. Từ năm 1988 đến hết năm 2006. GDP bình quân theo đầu người đã đạt trên 1.. Việt Nam vượt qua ngưỡng nước thu nhập thấp(2). Năm 2008. từ đó có độc lập tự chủ trên con đường phát triển đất nước nói chung.23%. năm 2007: 835 USD. có hơn 8.xã hội. đến nay. 2001 . 30. Nhà nước đã đưa ra 8 nhóm giải pháp cấp bách. Nhà nước ta đã có nhiều tác động tích cực trong việc bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình phát triển nền kinh tế này. và bằng việc tổ . nhưng nguồn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam lại tăng kỷ lục: vốn đăng ký 64 tỉ USD.48%.15% và những năm gần đây đều có xu hướng tăng lên. Việc từng bước hoàn thiện hệ thống chính sách về chế độ sở hữu và cơ cấu thành phần kinh tế đã góp phần thúc đẩy chuyển dịch theo hướng tạo động lực và điều kiện thuận lợi hơn cho khai thác các tiềm năng trong và ngoài nước để phát triển kinh tế. khu vực FDI đóng góp gần 30% cho tăng trưởng kinh tế. chúng ta coi trọng trước hết nhân tố con người.5 triệu người. 80% là nguồn vốn vay ưu đãi.2000: 7%/năm..1990. Trong năng lực nội sinh. Năm 2008. dù phải đối mặt với không ít khó khăn. dù kinh tế thế giới suy thoái. Nhà nước đã có nhiều chính sách về giáo dục .2005: 7.đào tạo để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. không ngừng được nâng cao: thời kỳ 1986 . Trên cơ sở tiên định những diễn biến xấu có thể xảy ra. năm 2005: 639 USD. Để góp phần giữ vững độc lập tự chủ trong phát triển kinh tế. Năm 1996 mới có 12.5%/năm. Vai trò của Nhà nước ta đối với kinh tế càng bộc lộ rõ nét trong ban hành. các tổ chức tài chính quốc tế cấp cho Việt Nam đạt hơn 40 tỉ USD.. Số lao động tốt nghiệp phổ thông trung học từ 13. thu hút được nhiều vốn ODA.000 cán bộ quản lý. nguồn vốn ODA từ các nước. Năm 2006. tỷ lệ này đạt 31%.5%/năm. năm 2004 là 35. Với mức thu nhập này.5% năm 1996 tăng lên 19. tăng trưởng GDP bình quân đạt 4.000 dự án đầu tư FDI với tổng vốn đăng ký 74 tỉ USD.000 USD.. thu nhập của nhân dân đã có bước cải thiện đáng kể.

tháng 10 giảm 0. Kinh tế vĩ mô ổn định: thu chi ngân sách được cân đối. bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ sở hữu. Nhà nước cần làm tốt chức năng hỗ trợ cho toàn xã hội sản xuất hàng hóa công cũng như tư. vận hành suôn sẻ.. Hệ thống luật này phải khẳng định và bảo vệ sự tồn tại khách quan. tạo môi trường thuận lợi cho tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên.. đặc biệt là kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội. tích cực đấu tranh chống các hành vi độc đoán. việc phát huy vai trò của Nhà nước đối với sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay cũng còn những hạn chế đáng kể: thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa còn chưa được xây dựng đồng bộ. hiện đại hóa đất nước và hội nhập toàn cầu hiện nay.18%.19%.9 tỉ USD. Những thành tựu này có vai trò to lớn trong việc giữ vững ổn định xã hội. lâu dài tính đa dạng của các hình thức sở hữu. chưa có giải pháp mang tầm đột phá để kinh tế nhà nước thực sự hoàn thành tốt chức năng chủ đạo trong nền kinh tế. chỉ số giá tiêu dùng không ngừng giảm: tháng 9-2008 tăng 0. tham nhũng trong bộ máy nhà nước. nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Nhà nước ta là cung cấp môi trường pháp lý tin cậy cho các chủ thể kinh tế phát huy tối đa năng lực của họ. kinh tế tập thể còn rất yếu kém.4 tỉ USD. tăng 28% so với năm 2007. tăng 26.chức thực hiện có hiệu quả các giải pháp đó. Để nâng cao hơn nữa hiệu quả./ Người lãnh đạo và Nhà quản lý Khác biệt lớn nhất giữa lãnh đạo và quản lý nằm ở biện pháp thúc đẩy những nhân viên dưới quyền. cần cải cách thể chế xây dựng chính sách..68%. Rất nhiều người lãnh đạo cũng là nhà quản lý và ngược lại. cần tiếp tục phân định rạch ròi chức năng quản lý hành chính nhà nước đối với kinh tế và quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. song hai vị trí này không phải lúc nào cũng song hành như vậy. năng lực cạnh tranh của nền kinh tế thấp.. vừa có tính lâu dài đó sẽ nâng cao hơn nữa hiệu quả tác động của Nhà nước tới sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa. Việc giải quyết có hiệu quả những vấn đề vừa có tính cấp bách. chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường. tháng 11 giảm 0. tháng 12 giảm 0. tệ quan liêu. vượt kế hoạch đề ra. Cần xác định rõ. Nhà quản lý . tổng thu ngân sách nhà nước vượt mức dự toán cả năm. hiệu lực tác động của Nhà nước tới phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay. Để nâng cao năng lực của bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế. chuyên quyền. Nhà nước cần sớm hoàn thiện thể chế của nền kinh tế thị trường. Cùng với vấn đề then chốt trên.3% so với năm 2007. đặc biệt là hoàn thiện hệ thống pháp luật về sở hữu. Nhà nước đã góp phần tích cực vào việc kiềm chế lạm phát. kim ngạch nhập khẩu đạt 80. quản lý nhà nước về kinh tế còn nhiều bất cập. Kim ngạch xuất khẩu đạt 62.76%.

Nhà quản lý được trả lương để hoàn thành một sứ mạng cụ thể. được doanh nghiệp trao quyền và được giao việc cho các nhân viên. với nguồn nhân lực và nguồn vốn hữu hạn. Trong quá trình đạt tới mục tiêu. mặc dù họ không phải quá liều lĩnh. Người lãnh đạo Người lãnh đạo có người thừa hành mà không có nhân viên dưới quyền. họ nhận ra tầm quan trọng của việc khuyến khích người khác làm việc theo định hướng của họ. Phương pháp quản lý là trao đổi. Sau đó. Tìm kiếm mạo hiểm. Việc chấp hành lệnh là việc làm tự nguyện. Họ luôn đối xử tốt với con người. song đây vẫn chưa phải phẩm chất nổi bật của họ. và người lãnh đạo không thể chỉ giao việc mà không truyền cảm hứng cho người thừa hành. ngược lại họ thường khá tập trung vào kết quả. Việc tập trung vào yếu tố con người không có nghĩa là người quản lý không quan tâm tới công việc. Tập trung vào công việc. Mặc dù rất nhiều người lãnh đạo có sức lôi cuốn quần chúng. họ lại không thân thiện với người thừa hành để luôn tạo được sự nghiêm nghị cần thiết. Do đó họ khá thoải mái trong việc chấp nhận rủi ro và thường coi những việc khó khăn mà người khác tránh là những cơ hội tốt và sẵn sàng phá vỡ các quy luật để chinh phục bằng được. nhà quản lý phân những sứ mạng này thành từng nhiệm vụ cụ thể. Tìm kiếm sự thoải mái. người lãnh đạo cần chỉ rõ việc thực hiện theo yêu cầu sẽ đem lại lợi ích thế nào đối với người thừa hành. người lãnh đạo coi việc vấp phải khó khăn và vượt qua là việc tự nhiên. Tuy nhiên. và giao lại cho cấp dưới. nhà quản lý giao việc và nhân viên thực hiện. Kết quả của một nghiên cứu thú vị cho thấy các nhà quản lý thường xuất thân từ những gia đình có nền tảng vững chắc và thường sống cuộc sống bình thường và thoải mái.Nhà quản lý có nhân viên thuộc cấp. và nhân viên được trả công một khoản ít nhất bằng lương của họ. thực tế. những người lãnh đạo vĩ đại tạo ra niềm tin bằng cách nâng cao uy tín của người khác và tự gánh lấy chỉ trích. những người lãnh đạo thường tìm kiếm mạo hiểm. . Điều này khiến cho họ không chấp nhận mạo hiểm và họ luôn tìm kiếm những biện pháp để tránh xung đột. Phương pháp quản lý là cảm hóa. Tập trung vào con người. Cũng theo nghiên cứu cho thấy các nhà quản lý muốn tránh mạo hiểm.

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful