P. 1
BAI DU THI

BAI DU THI

|Views: 27|Likes:

More info:

Published by: Trần Nhật Trọng on Sep 27, 2010
Direitos Autorais:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOC, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

12/11/2010

pdf

text

original

Bản chất chế độ dân chủ của chúng ta Những ngày gần đây, các thế lực thù

địch ra sức xuyên tạc quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, phủ nhận những thành tựu cách mạng, lợi dụng các vấn đề “dân tộc”, “tôn giáo”, “dân chủ”, “tự do báo chí”, những tiêu cực trong xã hội để chống phá, vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ. Chúng xuyên tạc, phủ nhận Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; ngợi ca, kích thích chủ nghĩa tự do, thực dụng. Những quan điểm “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập” cùng với những luận điệu bóp méo sự thật “Việt Nam vi phạm dân chủ”, “mất dân chủ”, vu khống Đảng Cộng sản Việt Nam là “trở lực” cho việc thực hiện dân chủ… do các thế lực thù địch bên trong và bên ngoài kết hợp chặt chẽ với nhau liên tiếp tung ra trong suốt hơn hai mươi năm đổi mới, lại rộ lên hiện nay với sắc thái biểu hiện mới. Cần khẳng định lại rằng, luận điểm “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập” chỉ có tính chất mị dân, thực chất là nhằm tước bỏ tính chất xã hội chủ nghĩa của nền dân chủ ở nước ta. Dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ khác hẳn về bản chất và đối lập về nguyên tắc với dân chủ tư sản. Đó là chế độ dân chủ “gấp triệu lần” hơn bất cứ chế độ dân chủ nào trong lịch sử như V.I.Lênin từng khẳng định. Thực thi dân chủ sai nguyên tắc, vô nguyên tắc đều là trái với lí tưởng của cách mạng, với bản chất dân chủ xã hội chủ nghĩa, có thể dẫn đến hậu quả khó lường. Xa rời những nguyên tắc của chủ nghĩa xã hội, thì việc dân chủ hóa sẽ trượt sang dân chủ phi xã hội chủ nghĩa và đồng nghĩa với việc thủ tiêu chủ nghĩa xã hội. Cần nhớ lại một bài học đau xót và thấm thía về sự vi phạm dân chủ và thực thi dân chủ sai nguyên tắc ở Liên Xô trong thời gian cải tổ. Những đơn thuốc “công khai hóa”, “dân chủ hóa”, “đa nguyên chính trị” đưa ra nhằm cải tổ chủ nghĩa xã hội lại tạo “thời cơ”, điều kiện thuận lợi cho các thế lực thù địch ráo riết hơn, quyết liệt hơn trong mưu đồ chống phá và dẫn đến thủ tiêu chế độ Xô viết. Thực tiễn cho thấy, bản chất tốt đẹp và tính ưu việt của nền dân chủ nước ta ngày càng thể hiện sinh động trong cuộc sống hằng ngày của quần chúng nhân dân. Kể từ khi khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), các tầng lớp nhân dân lao động Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức đứng lên làm chủ, tự mình tổ chức, cai quản và xây dựng xã hội mới. Đó là thành tựu vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Chế độ dân chủ ở nước ta, xét về bản chất, là một thể chế chính trị mà trong đó quyền lực chính trị - xã hội thuộc về nhân dân; là chế độ bảo đảm quyền làm chủ trên thực tế của nhân dân trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, tinh thần; phát huy cao độ tính tích cực sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và thông qua Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Quyền làm chủ của nhân dân không chỉ thể hiện trong các văn bản hiến pháp, pháp luật, mà ngày càng được thể hiện sinh động trong cuộc sống hằng ngày.

Đảng ta đã nhiều lần khẳng định: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu vừa là động lực của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân. Trong xã hội ta, mọi công dân Việt Nam đều có quyền tham gia quản lí xã hội một cách trực tiếp, hoặc thông qua người đại diện do mình lựa chọn. Trong các cuộc bầu cử Quốc hội và bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp, tỉ lệ cử tri đi bầu rất cao. Tỉ lệ đại biểu là nữ, người dân tộc thiểu số, chức sắc tôn giáo trong Quốc hội ngày càng cao, nhất là tỉ lệ nữ là đại biểu Quốc hội đứng thứ hai trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, đứng thứ 9/135 nước trên thế giới. Việc truyền hình trực tiếp các phiên chất vấn của Quốc hội; việc thực hiện đối thoại trực tuyến của Chủ tịch nước, của Thủ tướng Chính phủ… với nhân dân; những cuộc tiếp xúc của các đại biểu với cử tri chuẩn bị cho các kì bầu cử Quốc hội đã tạo điều kiện tốt hơn cho người dân thực hiện quyền làm chủ, thực thi quyền kiểm tra, giám sát các hoạt động của Nhà nước và đề đạt nguyện vọng, ý kiến của mình. Điều đó thể hiện sâu sắc bản chất tốt đẹp và tính ưu việt của chế độ dân chủ ở nước ta. Trong chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch triệt để sử dụng các phương tiện truyền thông hiện đại trong đó có mạng Internet vào việc truyền bá các quan điểm thù địch, sai trái, xuyên tạc, công kích chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước. Trong rất nhiều tài liệu tán phát trên mạng chúng vu cáo Đảng và Nhà nước ta vi phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, mà biểu hiện lộ liễu nhất là mới đây, một số tổ chức và cá nhân đã dựng đứng lên “tình hình vi phạm quyền tự do ngôn luận nghiêm trọng ở Việt Nam”; rồi kêu gọi Việt Nam “thả các blogger bị cầm tù và tôn trọng tự do Internet”. Những ai xuyên tạc tình hình Việt Nam cần phải thấy rằng, hiện nay báo chí Việt Nam có sự phát triển nhanh về số lượng, loại hình, ấn phẩm, đội ngũ những người làm báo, số lượng người đọc; cơ sở vật chất kĩ thuật, công nghệ, năng lực tài chính, sự tác động và ảnh hưởng xã hội. Báo chí thực sự là tiếng nói của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, là diễn đàn của nhân dân; quyền tự do báo chí được bảo đảm bằng pháp luật và thể hiện cụ thể trong thực tiễn. Ở Việt Nam, quyền tự do báo chí, tự do hội họp theo quy định của pháp luật. Hiện nay cả nước có 18.259 cơ sở của tổ chức xã hội, 1.681 cơ sở thuộc tổ chức xã hội - nghề nghiệp; có hơn 500 cơ quan báo chí, với hơn 700 ấn phẩm báo chí, hơn 2.500 trang thông tin điện tử đang hoạt động. Những con số này vẫn tiếp tục gia tăng. Hệ thống phát thanh truyền hình phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng. Hầu hết các xã được phủ sóng truyền hình. Việt Nam là một trong những nước có tốc độ phát triển nhanh nhất trên thế giới về Internet. Đó là kết quả biểu hiện rõ ràng và sinh động về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở nước ta. Cũng như các quốc gia khác, Việt Nam có quyền ngăn chặn việc lưu hành trên mạng các thông tin và hình ảnh vi phạm thuần phong mĩ tục, kích động bạo lực, khiêu dâm, truyền bá các tài liệu chống phá đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước, vi phạm an ninh quốc gia. Đó hoàn toàn không phải là “hạn chế dân chủ”, ngăn chặn sự “bày tỏ quan điểm ôn hòa trên Internet” như có người cố tình gán ghép. Những luận điệu vu cáo Đảng và Nhà nước ta “vi phạm” tự do ngôn luận, tự do báo chí là những

.xã hội. . .Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật phải xuất phát từ thực tiễn Việt Nam. chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Dân chủ không có nghĩa là dân chủ vô nguyên tắc. Bản chất tốt đẹp và tính ưu việt đó không phải tự nhiên mà có. nhằm dụng ý xấu. Tự do ngôn luận. do dân và vì dân. giữ gìn. xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.Yêu cầu củng cố và mở rộng dân chủ. nâng cao và phát huy trong sự nghiệp đổi mới. . mà đó là kết quả của biết bao mồ hôi công sức và cả máu xương của nhiều thế hệ người Việt Nam.2. hiện đại hoá. Những quan điểm cơ bản về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong giai đoạn hiện nay: .Thể chế hoá kịp thời và đầy đủ đường lối.luận điệu vô căn cứ. càng không thể là vô chính phủ. xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.Yêu cầu mở rộng hợp tác quốc tế và chủ động hội nhập. tự do báo chí không có nghĩa là tự do đảo lộn “chính”. Bất cứ một nền dân chủ nào cũng vậy. Chúng ta phải kiên quyết bảo vệ. 2. dân chủ bao giờ cũng gắn liền với pháp luật và kỉ luật.1. kỉ cương.Yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá. hiện đại hoá đất nước. bảo đảm tính truyền thống và tính hiện đại của hệ thống pháp luật Việt Nam. là trái với dân chủ. Lợi dụng dân chủ.Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật phải phục vụ cho mục tiêu phát triển bền vững. Dù còn có những hạn chế nhất định trên con đường hoàn thiện.Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật phải bảo đảm phát huy nội lực. lợi dụng tự do báo chí. chính sách của Đảng về xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá. Sự cần thiết phải hoàn thiện hệ thống pháp luật trong giai đoạn hiện nay: . tự do Internet để gây mất ổn định chính trị .Yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân. . . dù là dân chủ tư sản hay dân chủ xã hội chủ nghĩa đều tồn tại trong khuôn khổ pháp luật. . . 2. Phương hướng và giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay. dân chủ và công bằng xã hội. “tà”. phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân. chống lại Tổ quốc và dân tộc là hành động không thể chấp nhận được. xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. nhưng bản chất chế độ dân chủ ở nước ta là tốt đẹp và ưu việt. tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ. Cần phải thấy rằng. đồng thời tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm và chuẩn mực quốc tế.Yêu cầu xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Báo chí phải thực sự là “vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà”.

có sự phân công. . do dân và vì dân. hành pháp.Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật phải đảm bảo tính khả thi.Tăng cường công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ làm công tác pháp luật. . hành pháp. phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp. 2. Tư tưởng đó đã được thể chế hóa trong Điều 2 của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) như sau: “Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân. PHÂN CÔNG VÀ PHỐI HỢP QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC Nghị quyết Đại hội IX của Đảng khẳng định: “Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân.Tăng cường năng lực lập pháp của Quốc hội. có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp. . ngành. Vì vậy. pháp lệnh trình Quốc hội và Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ. Quyền lực nhà nước là thống nhất. kế hoạch xây dựng và hoàn thiện pháp luật. vì nhân dân. tư pháp”(1). . là Nhà nước pháp quyền của dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. tư pháp”. . điều hành của Chính phủ đối với công tác xây dựng các dự án luật. hành pháp và tư pháp ở nước ta dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh có ý nghĩa hết sức quan trọng cả về lý luận lẫn thực tiễn.Tăng cường năng lực của các cơ quan pháp chế Bộ. Một số phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. chiến lược pháp luật. kế thừa và phát triển liên tục.Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật phải kịp thời vững chắc và cơ bản. Quyền lực nhà nước là thống nhất.. do nhân dân.Xây dựng chiến lược phát triển hệ thống pháp luật gắn với chiến lược phát triển kinh tế xã hội. có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp. do dân. có sự phân công. Việc nhấn mạnh nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất. vì dân. VẤN ĐỀ THỐNG NHẤT. phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp. đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi Đảng và Nhà nước đang từng bước tổ chức xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân. .Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học pháp lý để cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định chính sách. hình thành các chương trình.Tăng cường sự chỉ đạo. nghiên cứu nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất. . tính hiệu lực và hiệu quả của pháp luật trong thực tiễn cuộc sống. bảo đảm cho pháp luật tương đối ổn định.3. . hành pháp và tư pháp là sự sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Ở đây có ba nội dung trong cơ chế phân công quyền lực nhà nước cần chú ý: Một là. vì dân. Đảng Cộng sản Việt Nam đã khái quát thành các nguyên lý: quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. không một cơ quan nhà nước nào có thể thâu tóm toàn bộ quyền lực nhà nước vào tay mình và cũng không cho phép lấn át chức năng giữa chúng. Kế thừa những tư tưởng tổ chức quyền lực nhà nước của các Hiến pháp. Nhà nước của dân. quyền lực của Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa được thực hiện theo cơ chế phân công và phối hợp. tư pháp. trong quá trình tổ chức Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa. sự phân công quyền lực nhà nước còn bao hàm cả sự phối hợp quyền lực. tổ chức và hoạt động của Nhà nước đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước sẽ bị lỏng lẻo dẫn đến nguy cơ quyền lực nhà nước bị phân tán. Ở đây. Đảng đã chủ động thực hiện nguyên tắc này nhằm tổ chức quyền lực nhà nước chặt chẽ. nhiệm vụ của mình theo đúng Hiến pháp. thuộc về nhân dân và thống nhất vào Quốc hội. những yếu tố hợp lý của cách thức tổ chức quyền lực nhà nước trong lịch sử đã được Đảng ta tiếp thu và nâng lên thành lý luận về sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước. vừa bảo đảm sự thống nhất của quyền lực nhà nước. việc phối hợp các cơ quan nhà nước thực hiện quyền lực nhà nước thống nhất cũng là sự phân công quyền lực. Sự phân công ba loại quyền lực (lập pháp. là sự thể hiện ý chí của nhân dân và dựa trên chủ quyền của nhân dân. xử lý khoa học mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước “tối cao” trong quá trình thực hiện quyền lực. Cơ chế phân công càng chặt chẽ. quyền lực nhà nước là thống nhất. Nhưng mỗi loại quyền lực . Thực ra. Mỗi quyền lực phát huy hiệu lực của mình. Quốc hội. Tòa án nhân dân và Viện Kiểm sát phải có vị trí tương đối độc lập trong bộ máy nhà nước và thực hiện các chức năng. Chính phủ. Sự phân định này càng rõ ràng. nếu cơ chế phân công quyền lực không chặt chẽ. phát huy ưu điểm. Hiến pháp năm 1959 và Hiến pháp năm 1980. Như vậy. hành pháp và tư pháp) trong nhà nước pháp quyền thể hiện ở chỗ: Quyền lực nhà nước là thống nhất. Đồng thời. Luật Tổ chức và Hoạt động các cơ quan nhà nước. sự phân công quyền lực là cơ sở để thực hiện tốt nhất quyền lực nhà nước thống nhất. càng hợp lý thì quyền lực nhà nước càng thống nhất. nhưng để bảo đảm tính thống nhất đó phải phân công hợp lý và chặt chẽ cho các cơ quan trong việc thực hiện quyền lực. khắc phục nhược điểm. Bản thân sự phân công quyền lực mang trong mình cơ chế ràng buộc lẫn nhau giữa các thiết chế quyền lực “tối cao” nhằm mục đích vừa bảo đảm cho mỗi loại hình cơ quan nhà nước tương đối độc lập. là quyền lực nhà nước luôn luôn thống nhất. có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp.Trên quan điểm thống nhất quyền lực nhà nước. Những nguyên tắc trên từng bước được thể hiện trong các Hiến pháp nước ta: Hiến pháp năm 1946. cụ thể thì hiệu lực. sự phân công quyền lực giữa các cơ quan nhà nước thể hiện ở sự phân định chức năng. Hiến pháp năm 1992 đã thể hiện rõ và đầy đủ hơn sự thống nhất. nhiệm vụ của mỗi loại hình cơ quan nhà nước. hành pháp. hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước càng được nâng cao. Hai là. không xâm phạm quyền lực khác và cũng không bị xâm phạm bởi quyền lực khác.Vấn đề có tính nguyên tắc. sự phân công và phối hợp quyền lực trên cơ sở bảo đảm quyền lực nhà nước bắt nguồn từ nhân dân. do dân. Ngược lại. Vì vậy.

quyền tư pháp – hoạt động xét xử nhằm bảo vệ pháp luật. thống nhất.V. đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam. nhưng cơ sở của xã hội là nhân dân. hiệu quả. Sự phân công chặt chẽ và rõ ràng chỉ có thể đạt được trong thực tế nếu có sự giám sát lẫn nhau. trong đó giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo mà Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của nó. theo chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân. Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của quyền lực nhà nước. Nhân dân là chủ thể thống nhất của quyền lực nhà nước đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đây là nền tảng của sự thống nhất bởi quyền lực nhà nước bắt nguồn từ nhân dân. linh hoạt. sự phân công quyền lực không thể thực hiện một cách cứng nhắc mà luôn song hành với sự phối hợp tạo thành sự thống nhất quyền lực nhà nước. quyền hành pháp – hoạt động thực thi pháp luật. đối lập lẫn nhau. Quyền lực nhà nước là thống nhất thể hiện trên hai phương diện: Về phương diện chính trị. Chính phủ là cơ quan hiến định nắm quyền hành pháp. Giám sát là rất cần thiết nhưng giám sát không phải là đối trọng. của nhân dân. không chỉ đại diện cho quyền lợi giai cấp mình. Về nguyên tắc chung.I. Hiến pháp năm 1992 sửa đổi). bảo vệ các quyền tự do của công dân. Quyền lực nhà nước thống nhất vào Quốc hội nhưng được phân công cụ thể. nhà nước là sản phẩm của đấu tranh giai cấp và nhà nước được thành lập bởi ý chí của giai cấp thống trị. thông suốt từ trung ương đến cơ sở và thực sự có hiệu lực. không phụ thuộc vào bất cứ cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội nào. Đảng là yếu tố quan trọng để thực hiện quyền lực nhà nước thống nhất. Điều 4 Hiến pháp ghi nhận: “Đảng Cộng sản Việt Nam. các lợi ích của nhà nước và xã hội. bảo đảm quyền lực nhà nước thống nhất vào Quốc hội. quyền lực nhà nước thống nhất thuộc về nhân dân.được phân công thực hiện các dạng hoạt động độc lập là: quyền lập pháp – hoạt động làm luật. Sự phân công và phối hợp phải được xác định một cách uyển chuyển. Viện Kiểm sát nhân dân thực hiện quyền công tố và kiểm soát các hoạt động tư pháp theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. mà nòng cốt là “liên minh giữa giai cấp công nhân. Quốc hội là cơ quan hiến định thống nhất các quyền nhưng không thực thi cả ba quyền. Ở Việt Nam không có cơ sở để thực hiện chế độ chính trị đa đảng và cũng không cần phải đa đảng. mà tập trung thực hiện quyền lập pháp. rành mạch. trong đó. Khi xét xử. Lê-nin trong các bài viết nhiều lần . Sự phân công đó là rất cần thiết để xây dựng một nền hành chính quốc gia luôn luôn ổn định. Ba là. nông dân và đội ngũ trí thức” (Điều 2. là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã chứng minh rằng. mà còn đại diện cho quyền lợi của nhân dân lao động và của cả dân tộc. Tòa án nhân dân cùng với Viện Kiểm sát nhân dân được phân công thực hiện quyền tư pháp. Sự phối hợp các quyền lực trong nhà nước được điều chỉnh một cách nhịp nhàng và đồng bộ trên cơ sở các quy định của pháp luật như: Các quyền của công dân được quyền lực lập pháp ghi nhận trong Hiến pháp. nhân dân lao động và của cả dân tộc. Sự phân công như vậy là phù hợp. sinh động nhằm đạt được sự thống nhất trong quá trình thực hiện quyền lực. sẽ được quyền lực hành pháp thực thi trong đời sống hằng ngày và được quyền lực tư pháp bảo vệ.

khẳng định: Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân. hành pháp. Sự thống nhất quyền lực nhà nước của Công xã Pa-ri được C. và các cơ quan hành pháp. nhân dân thông qua sự biểu quyết phê chuẩn Hiến pháp. ở đó phạm trù nhân dân bao gồm nhiều giai cấp. mà phân công cho nhiều cơ quan thực hiện… Ở Việt Nam. phối hợp các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp. Ba thứ quyền này tồn tại đồng thời từ khi xuất hiện nhà nước. Về phương diện pháp lý. các tác giả tuyên bố quyền lực nhà nước thống nhất vào nhân dân là muốn vận dụng nguyên tắc phân quyền vào quá trình xây dựng bộ máy của Nhà nước ta. mà là một tập thể hành động vừa lập pháp. Như đã phân tích ở trên. nhiều tầng lớp với các lợi ích khác nhau.Mác nhận xét: Công xã Pa-ri không phải là cơ quan đại nghị. quyền lực nhà nước thống nhất vào nhân dân chứ không phải thống nhất vào Quốc hội. Cần nhấn mạnh rằng. rõ ràng quyền lực nhà nước tập trung vào Quốc hội. Với điều quy định đó. Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài báo Dân vận (viết năm 1949) đã tuyên bố: “Mọi quyền lực đều ở nơi dân”. C. bỏ phiếu kín. binh sĩ và nông dân trên cơ sở một cương lĩnh nhất định. phân quyền là cách thức tổ chức quyền lực của nhà nước tư sản. phân quyền tư sản. tập trung về tay nhân dân. Trên cơ sở tổng kết đấu tranh giai cấp. theo chúng tôi. sẽ là người duy nhất có quyền hợp pháp phân công việc thực hiện ba quyền: Quốc hội. quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân – nền tảng chính trị chung – được khẳng định trong Điều 2 và Điều 6 của Hiến pháp năm 1992 rất cụ thể: “Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân…”. trực tiếp. Còn dưới chế độ xã hội chủ nghĩa phạm trù nhân dân gồm các giai . sẽ là vội vã khi đưa ra kết luận như vậy. và chính quyền phải chịu trách nhiệm trước các xô-viết”. hiện có hai quan điểm khác nhau: Một là. theo đó. các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã khẳng định quan điểm về sự thống nhất nội tại giữa các bộ phận cấu thành quyền lực nhà nước. Chúng tôi cho rằng. Chính phủ và Tòa án nhân dân tối cao là những cơ quan cao nhất của từng loại quyền lực nhà nước. Nhà nước là do nhân dân thành lập nên và quyền lực nhà nước luôn luôn thuộc về nhân dân. đây là sự thống nhất nội tại chứ không phải là phép cộng các bộ phận quyền lực đó lại. Về vấn đề quyền lực nhà nước thống nhất vào đâu. tư pháp giống như cây quyền lực gồm 3 nhánh. Song. Như vậy. Mác và Ph. Phân quyền giúp ngăn chặn sự chiếm đoạt quyền lực của thế lực này để áp chế thế lực khác. bình đẳng. V. Như vậy. Lê-nin viết: “Toàn bộ chính quyền nhà nước phải hoàn toàn chuyển về tay các xô-viết đại biểu công nhân. Quyền lực nhà nước gồm 3 yếu tố không thể phân chia là quyền lập pháp. nhưng nhân dân đã trao quyền lực cho Quốc hội thông qua bầu cử phổ thông đầu phiếu. Chúng tôi hiểu rằng. Ăng-ghen đã khẳng định tính giai cấp của quyền lực nhà nước và đã mở đường cho việc thiết lập quyền lực nhà nước thống nhất. không phải là sự “nhập cục” tất cả và trao cho một cơ quan thực hiện. Mặc dù ở nước ta “tất cả quyền lực thuộc về nhân dân”. vừa hành pháp. quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và để thực hiện quyền lực nhà nước thống nhất đó chúng ta cần xác lập cơ chế thực hiện quyền lực: phân công. Trong lịch sử có nhiều hình thức tổ chức quyền lực nhà nước khác nhau: Quyền lực nhà vua chuyên chế ở xã hội chiếm hữu nô lệ và phong kiến. tư pháp có sự độc lập nhất định đối với Quốc hội. tập quyền xã hội chủ nghĩa.I. hành pháp và tư pháp.

phải thực hiện sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lực nhà nước sao cho hợp lý nhất. đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản thì cần thiết phải có một cơ quan đại diện quyền lực thống nhất đó. Điều 138 của Hiến pháp năm 1992 quy định nhiệm kỳ của Quốc hội là 5 năm và nhiệm kỳ của Chủ tịch nước. Vì vậy. và tất cả các đại biểu Quốc hội đều do nhân dân trực tiếp bầu ra để thay mặt nhân dân nắm giữ quyền lực nhà nước. Chính phủ. Đương nhiên. chúng tôi cho rằng. Điều 102. quan điểm của Đảng ta về cơ chế thực hiện quyền lực nhà nước đã được thể chế hóa tại Điều 6 của Hiến pháp năm 1992 là phù hợp. trong khi đó tại Điều 2 quy định nhiệm kỳ của Tổng thống là 4 năm. không phân chia thành hai viện. Khi Quốc hội hết nhiệm kỳ thì các cơ quan nhà nước “tối cao” khác cũng hết nhiệm kỳ và tại kỳ họp đầu tiên của mỗi khóa Quốc hội. Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao đều “theo nhiệm kỳ của Quốc hội”. Điều đáng bàn ở đây là. Điều đó nói lên rằng. tại Điều 3 quy định nhiệm kỳ của các thẩm phán là suốt đời. Bằng một cuộc bầu cử dân chủ như vậy. bởi vì quyền lực nhà nước thống nhất là của nhân dân. Vì những lẽ đó. phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lực nhà nước. Hiến pháp Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. còn nghị viện tư sản không thể là cơ quan đại diện cho toàn thể nhân dân được. vì nếu chia như thế thì dẫn đến kiềm chế và triệt tiêu nhau làm cho quyền lực nhân dân sẽ bị phân tán. Hai là. Quốc hội của nước ta là cơ quan đại diện cho toàn thể nhân dân thống nhất. không bảo đảm được tính thống nhất. Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất do nhân dân cả nước bầu ra thông qua phổ thông đầu phiếu bình đẳng. các đại biểu Quốc hội thay mặt cử tri cả nước bầu ra các cơ quan nhà nước tối cao để xác lập cơ chế phân công và phối hợp trong việc thực hiện quyền lực nhà nước. chế ước lẫn nhau. Điều 113. Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao đều do Quốc hội của nhiệm kỳ đó cử ra. Ở các nước tư sản phân quyền không có sự thống nhất này. Thượng nghị viện là 6 năm. Ví dụ.cấp lao động có cùng lợi ích cơ bản. Lý do của việc quy định nhiệm kỳ không thống nhất của các cơ quan nhà nước “tối cao” chỉ có thể được giải thích là nhằm để thực hiện đối trọng. để bảo . Tại Điều 85. Như vậy. trực tiếp và bỏ phiếu kín. Về mặt pháp lý. không phải tất cả mọi công việc đều dồn hết vào cơ quan đại diện quyền lực. Điều 128. Hiến pháp Việt Nam quy định một nhiệm kỳ thống nhất cho các cơ quan tối cao thực hiện quyền lực nhà nước. Quốc hội của nước ta ngay từ khi ra đời đến nay luôn luôn được tổ chức theo cơ cấu thống nhất. tính thống nhất quyền lực của Quốc hội nước ta thể hiện rất rõ ở chỗ: Chủ tịch nước. không thể phân chia cho các nhánh quyền lực. Về mặt thực tiễn. nhân dân chỉ bầu Hạ nghị viện còn Thượng nghị viện không do nhân dân bầu. Tôi đồng tình với ý kiến này và xin được nhấn mạnh thêm một số vấn đề sau. quyền lực nhà nước thống nhất vào Quốc hội. mà cần có sự phân công. quyền lực nhà nước ở Việt Nam là ý chí thống nhất của nhân dân lao động được thực hiện thông qua nhà nước đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. tại Điều 1 quy định nhiệm kỳ Hạ nghị viện là 2 năm. Trong khi đó ở nghị viện tư sản. cứ 5 năm một lần nhân dân ta trao cho Quốc hội thực hiện quyền lực nhà nước của mình. pháp lý và thực tiễn. Về mặt chính trị. Chính phủ. Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam không thể tổ chức theo nguyên tắc phân quyền. Nói quyền lực nhà nước thống nhất vào Quốc hội là dựa trên cơ sở chính trị.

Tập trung quyền lực nhà nước vào cá nhân (Vua). kể cả của Quốc hội là do nhân dân giao cho thông qua phổ thông đầu phiếu. chuyên quyền như trong chế độ Phong kiến? Chủ nghĩa Mác .đảm sự thống nhất của quyền lực nhà nước phải tập trung vào cơ quan đại diện quyền lực nhà nước duy nhất và cao nhất do nhân dân bầu ra. các cơ quan nhà nước ở Việt Nam hợp tác và giám sát lẫn nhau thực hiện quyền lực nhà nước. nhưng cơ sở xã hội của Nhà nước là nhân dân. tập quyền trong chế độ Phong kiến là tập trung quyền lực vào một cá nhân . Vua được lên ngôi theo nguyên tắc cha truyền con nối. Hà nội. hợp tác và giám sát lẫn nhau. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định “mọi quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. tất cả đều nằm trong quyền lực nhà nước thống nhất.Lê nin trong các bài viết nhiều lần khẳng định: Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân. mất dân chủ. mỗi cơ quan nhà nước “tối cao” thực thi nhiệm vụ của mình một cách tương đối độc lập. không một cơ quan nào được lạm quyền và đứng trên pháp luật. 2006. phân công và phối hợp quyền lực nhà nước ở nước ta Nghị quyết đại hội 10 của Đảng khẳng định: “Xây dựng cơ chế vận hành của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.đó là Vua. dễ dẫn đến chuyên quyền. tập quyền trong chế độ ta khác hẳn về chất so với phương thức tập quyền trong chế độ Phong kiến. Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài báo Dân vận viết năm 1949 đã khẳng định: “mọi quyền lực đều ở nơi dân”. Lê-nin là xô-viết và trong tư tưởng của Hồ Chí Minh là Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. trang 126) Như vậy. Mác đó là công xã. của V. phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp. theo quy định của pháp luật Phong kiến. lịch sử các triều đại phong kiến ở nước ta đã chứng minh điều đó. Vậy. có sự phân công. nhân dân không được toàn quyền trong việc lựa chọn Vua. hành pháp và tư pháp” (Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 10 NXB chính trị quốc gia. đảm bảo nguyên tắc tất cả quyền lực thuộc về nhân dân. Quyền lực nhà nước thống nhất vào Quốc hội nhưng có sự phân công hợp lý cho các hệ thống cơ quan nhà nước thực hiện. theo quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam việc thực hiện quyền lực Nhà nước ở nước ta dựa trên nguyên tắc tập quyền. vấn đề tập quyền trong chế độ ta liệu có dẫn đến lạm dụng quyền lực. nhà nước là sản phẩm của đấu tranh giai cấp và nhà nước được thành lập bởi ý chí của giai cấp thống trị. các nhánh quyền lực đối lập và đối trọng lẫn nhau. Đây là sự phân công hợp lý giữa các cơ quan nhà nước.I. Cơ quan đại diện ấy trong quan niệm của C. Tuy nhiên. bảo đảm mỗi tổ chức làm đúng chức năng của mình và đúng pháp luật.I. V. quyền lực nhà nước là thống nhất. Sự khác nhau căn bản giữa quyền lực nhà nước thống nhất và phân quyền tư sản thể hiện ở chỗ. Một số vấn đề về sự thống nhất. không một ai. “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”. có độc đoán. Bởi lẽ. Điều 2 hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001) quy định: “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân.Lê Nin đã từng chứng minh rằng. còn trong nhà nước tư sản. do nhân dân và . Sau khi phân công quyền lực. có sự ràng buộc. không cơ quan nào đứng trên cơ quan nào. Quyền lực của các cơ quan nhà nước. độc đoán. tại sao trong chế độ ta quyền lực vẫn thực hiện theo nguyên tắc tập quyền. Hơn nữa.

sự phân công quyền lực giữa các cơ quan trong bộ máy Nhà nước ta và sự phân chia quyền lực trong các Nhà nước tư sản có điểm nào khác nhau cơ bản? Nhà nước ta thực hiện cơ chế phân công quyền lực chứ không phải phân chia quyền lực. Chính phủ là cơ quan hiến định được phân công nắm quyền hành pháp. hành pháp. Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân. Sự phân công rành mạch trong thực hiện quyền lực nhà nước cũng là yếu tố quan trọng góp phần thực hiện sự giám sát lẫn nhau giữa các cơ quan trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. mất dân chủ. nguyện vọng của nhân dân. Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là do nhân dân lập ra và nguồn gốc quyền lực của Nhà nước là từ nhân dân. Như vậy. Quốc hội là cơ quan hiến định thống nhất các quyền nhưng không trực tiếp thực thi cả ba quyền. Sự phân công như vậy là phù hợp bởi vì vẫn đảm bảo quyền lực thống nhất vào Quốc hội. cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. là làm thế nào để Quốc hội thực sự là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam . (Điều 6 hiến pháp năm 1992) Khác với tập trung quyền lực vào cá nhân như trong chế độ Phong kiến. Hơn nữa. Viện kiểm sát thực thi quyền tư pháp. Vì vậy. trực tiếp và bỏ phiếu kín đã tự nguyện trao quyền lực của mình cho các đại biểu Quốc hội và đã tập trung quyền lực của mình vào Quốc hội. những người được Quốc hội bầu hoặc phải chịu trách nhiệm trước Quốc hội. Vấn đề quan trọng được nhiêu người cùng quan tâm. nếu không hoàn thành nhiệm vụ hoặc vi phạm kỷ luật tuỳ theo mức độ có thể bị cử tri hoặc Quốc hội bãi miễn . Chánh án Toà án nhân dân tối cao và Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao . nguyên tắc tập quyền của chế độ ta là tập trung quyền lực vào một tập thể. Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí. Bởi vì. Quyền lực của nhân dân được thống nhất vào Quốc hội nhưng để thực thi quyền lực đó có hiệu quả. Nhân dân thông qua chế độ bầu cử: phổ thông. Toà án. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đều do Quốc hội bầu ra trong số đại biểu quốc hội và Quốc hội có quyền bãi miễn khi xét thấy cần thiết. Quốc hội thực hiện cơ chế phân công quyền lực. tư pháp”. thống nhất từ trung ương đến cơ sở. tuy quyền lực nhà nước dược thực hiện theo nguyên tắc tập quyền nhưng không sợ có nguy cơ bị lạm dụng quyền lực. Toà án và Viện kiểm sát được phân công thực thi quyền tư pháp nhưng Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. sự phân công đó cũng rất cần thiết để xây dựng một nền hành chính quốc gia luôn ổn định. tuy có sự phân công thực hiện quyền lực nhưng Thủ tứơng Chính phủ.tập thể đó chính là Quốc hội.cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân cả nước.vì nhân dân. Mặt khác. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông nhân và đội ngũ trí thức. quyền lực vẫn thống nhất vào Quốc hội. Tuỳ tính chất. Phó thủ tướng Chính phủ và các thành viên khác của Chính phủ đều do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn. tập thể này được nhân dân cả nước lựa chọn những người có đủ tài đức bầu ra theo nhiệm kỳ. Vậy. do nhân dân bầu ra và phải chịu trách nhiệm trước nhân dân. Quyền lực nhà nước là thống nhất. hoặc dẫn đến độc đoán chuyên quyền. mà tập trung thực hiện quyền lập pháp. bình đẳng. có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp. Những người đó phải chịu trách nhiệm trước nhân dân cả nước. mức độ vi phạm Quốc hội có quyền bãi miễn những cá nhân đó.

tập quyển hay phân quyền là phụ thuộc vào bản chất của chế độ xã hội đương thời. quyền lực nhân dân là cội nguồn của quyền lực nhà nước. Ở các nước tư sản thực hiện cơ chế phân chia quyền lực. Tuy nhiên. việc thực hiện quyền lực nhà nước theo phương thức nào. Trong khi đó. Cũng vì thế mà cải cách chính sách Nhà nước trở thành vấn đề cấp thiết ở tất cả các nước đang thực hiện sự chuyển đổi thể chế kinh tế.phải chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác trước Quốc hội. Việc phân công thực hiện quyền lực nhà nước ở nước ta luôn gắn liền với sự phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp. mô hình kinh tế thị trường vẫn là cái gì đó chưa thuyết phục và chưa được mọi nước chấp nhận một cách dễ dàng. chỉ đến cuối thế kỷ XX thì câu trả lời cho sự phân tranh nói trên mới trở nên rõ ràng: mô hình của nền kinh tế chỉ huy đã thất bại trong việc duy trì tăng trưởng. Mục đích của cải cách là xây dựng một thể chế nhằm đảm bảo những lĩnh vực cần thiết phải có sự điều tiết của Nhà nước cũng như những lĩnh vực có thể hạn chế sự can thiệp đó. . Quyền lực đó chỉ có thể thực hiện một cách thống nhất dưới sự giám sát của nhân dân chứ không thể phân chia. có thể khẳng định rằng. Về vai trò Nhà nước trong nền kinh tế thị trường Cuộc chuyển đổi từ nền kinh tế chỉ huy sang nền kinh tế thị trường đòi hỏi không chỉ cải cách kinh tế mà cả cải cách chính trị. nên không có sự thống nhất này. nhân dân là chủ nhân của quyền lực chính trị. chúng tôi tập trung phân tích một số lĩnh vực quan trọng. Chính phủ. Trong bài viết này. nói đúng hơn là hai giải pháp vĩ mô đối lập nhau: nền kinh tế chỉ huy dựa trên sự kiểm soát tập trung của Nhà nước và nền kinh tế thị trường dựa vào thành phần kinh tế tư nhân. nếu thị trường và hệ thống thị trường là hiệu quả thì sao Nhà nước vẫn phải can thiệp vào các hoạt động của nó? Tại sao không thực hiện một chính sách để tư nhân được hoàn toàn tự do kinh doanh? Trả lời vấn đề này. có quyển kiến nghị chương trình xây dựng pháp luật hàng năm của Quốc hội… Tóm lại. Ba hệ thống cơ quan này đối trọng với nhau và chế ước lẫn nhau. thì quyền lập pháp thuộc về Nghị viện. trong việc tạo ra sự phồn vinh và thậm chí cả trong việc nâng cao đời sống nhân dân. hành pháp và tư pháp. nền kinh tế thị trường lại tỏ ra thành công ở nhiều nước từ Tây Âu đến Bắc Mỹ và cả Châu Á nữa. Nhà nước không thể thay thế cho thị trường nhưng nó có thể tác động một cách có hiệu quả đến mọi hoạt động của nền kinh tế thị trường. Vấn đề đặt ra là. Trong chế độ ta. Viện kiểm sát nhân dân tối cao tuy không có quyền ban hành các đạo luật nhưng có quyền trình dự án luật ra trước Quốc hội. quyền hành pháp thuộc về Tổng thống và Chính phủ. sẽ được cơ quan hành pháp triển khai thực thi trong thực tiễn và được cơ quan tư pháp bảo vệ. Chẳng hạn các quyền cơ bản của công dân được cơ quan lập pháp ghi nhận trong hiến pháp. Thế kỷ XX đã chứng kiến cuộc đua tranh giữa hai hệ thống kinh tế. thông thường nghị viện được phân thành thượng viện và hạ viện có nhiệm kỳ khác nhau. không thể không có sự điều tiết của Nhà nước trong quá trình xây dựng thể chế kinh tế mới. Theo cơ chế phân chia quyền lực của thuyết “tam quyền phân lập”. Toà án nhân dân tối cao. Thế nhưng. quyền tư pháp thuộc về Toà án.

từ ngân sách Nhà nước có được thông qua thuế. Ở đây. hàng hoá công cộng là thứ hàng hoá không thể định giá chính xác được. để đảm bảo tính chỉnh thể của nền kinh tế và để cung cấp những dịch vụ phúc lợi. Hơn nữa. khi khẳng định sự cần thiết phải có sự can thiệp của Nhà nước thì cũng cần cân nhắc kỹ lưỡng tời cái được . Nhà nước có 3 chức năng kinh tế rõ rệt là: can thiệp. Theo đó. người ta không trả tiền cho mỗi đơn vị sử dụng mà mua nó như một tổng thể nhằm mục đích bảo vệ an ninh của cả một quốc gia. thị trường tự do với đúng nghĩa của nó không thể tồn tại. Các loại hàng hoá kiểu như vậy được gọi là hàng hoá công cộng. mà phải là nâng cao hiệu quả của sự can thiệp đó. phát triển giáo dục tăng thu nhập và nâng cao phúc lợi xã hội. các nền kinh tế thị trường thành công nhất đều không thể phát triển một cách tự phát nếu thiếu sự can thiệp và hỗ trợ của Nhà nước. bởi tất cả mọi người tiêu thụ các dịch vụ quốc phòng một cách đồng thời. vì nền kinh tế tăng trưởng dưới tác động bên ngoài ngày một phức tạp nên sự can thiệp của Nhà nước xuất hiện như một tất yếu cho sự hoạt động có hiệu quả của nền kinh tế thị trường.trò chính đáng và thường xuyên trong các nền kinh tế hiện đại Vai trò đó của Nhà nước đặc biệt thể hiện rõ rệt ở việc xác định "các quy tắc trò chơi" để can thiệp vào những khu vực cần có sự lựa chọn. Cách giải quyết không phải là bỏ mặc thị trường. Điều đó được quyết định bởi quốc phòng là một kiểu hàng hoá hoàn toàn khác hẳn với các loại hàng hoá vật thể khác ở chỗ. ngoại trừ trong các lý thuyết kinh tế. Tuy nhiên. Đấy là nguyên nhân chính giải thích vì sao quốc phòng phải do Nhà nước điều hành và chi phí cho quốc phòng phải được lấy từ nguồn tài chính công. chống ô nhiễm môi trường. Tuy nhiên. Các nền kinh tế thị trường nguyên thuỷ dựa trên cơ sở sản xuất và trao đổi giản đờn có thể hoạt động một cách có hiệu quả mà không cần sự can thiệp của Nhà nước. song sự điều tiết của Nhà nước vẫn là một trong các hoạt động của nền kinh tế thị trường. tính không loại trừ (nonexcluđability) và tính không thể không tiêu dùng mà tựu trung lại. bởi không một doanh nghiệp tư nhân nào có thể bán quốc phòng của toàn dân cho các công dân riêng lẻ và coi đó là nghề kinh doanh thu lãi. Có nhiều ví . tạo dựng một bộ khung xã hội được sự điều hành của luật pháp. quản lý và điều hoà phúc lợi. Quả thực. cho nên tư nhân không thể cung cấp. tiêu dùng các hàng hoá công cộng. cung cấp hàng hoá công cộng. Hàng hoá công cộng có ba đặc tính: tính không kình địch trong tiêu dùng.Lịch sử đã chứng minh rằng. cho những người từ chối chi trả kinh phí cho quốc phòng. Trong các nền kinh tế thị trường đã Phát triển. củng cố an ninh quốc phòng. Mặc dù còn có những hạn chế nhất định. định hướng cạnh tranh một cách có hiệu quả bằng cách giảm độc quyền… 1. Nhà nước có một vai . bảo vệ cho một cá nhân không có nghĩa là giảm bảo vệ cho người khác. Vai trò của Nhà nước trong quốc phòng và trong việc sản xuất. thể hiện nhưng khuyết tật của thị trường. tất cả mọi người đều có nghĩa vụ và quyền lợi tiêu dùng hàng hoá công cộng như nhau. Quốc phòng là một ví dụ chứng tỏ vai trò tối quan trọng của Nhà nước. Đơn giản là không thể có chuyện dịch vụ quốc phòng lại được đem rao bán cho những người cần hoặc không thực hiện bảo vệ an ninh quốc gia.cái mất của sự can thiệp ấy. không thể phủ nhận vai trò của Nhà nước trong các lĩnh vực như: ổn định kinh tế vĩ mô thông qua chính sách tài chính và tiền tệ.

Nhà nước cần phải đảm bảo chi phí giảm ô nhiễm không được cao hơn so với chi phí mà ô nhiễm gây ra cho xã hội. Thật vậy. Vì thế. Tuy nhiên. chính Nhà nước phải chịu trách nhiệm duy trì sự ổn định đó trên tầm vĩ mô. Do chỗ toàn bộ chi phí xã hội là cái quan trọng quyết định sự phân bố tài nguyên một cách có hiệu quả. Vai trò của Nhà nước đối với các yếu tố ngoại vi Yếu tố ngoại vi là các ảnh hưởng tốt hay không tốt do các yếu tố bên ngoài gây nên cho hoạt động của công ty hay cho xã hội nói chung. Những yếu tố này gây nên sự giảm sút về phúc lợi của những người dân sống xung quanh hoặc có thể buộc những nhà máy khác gần đó phải tốn kém thêm chi phí để làm sạch nước sông đã bị ô nhiễm mà mình phải sử dụng trong sản xuất. Nhà nước bỏ vốn vào đầu tư cơ sở hạ tầng. Những chi phí ngoại vi cho sản xuất bao gồm: sự tắc nghẽn giao thông và ô nhiễm môi trường mà nhà máy hoặc xí nghiệp sản xuất tạo ra. Nhà nước buộc tất cả những ai hưởng lợi từ sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đều phải trả toàn bộ chi phí sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ấy. điều lệ. từ các biện pháp chống lũ lụt cho đến việc phòng chống vũ khí nguyên tử. người sử dụng nguồn tài nguyên này nếu gây ô nhiễm sẽ phải chịu chi phí theo giá thị trường. Và do vậy. ở hầu hết các nước. Trong nền kinh tế thị trường tự do. Yếu tố ngoại vi xảy ra khi có sự khác biệt về phí tổn hoặc lợi ích giữa cá nhân và xã hội. Vì những khó khăn này. vai trò kinh tế của Nhà nước là điều chỉnh lại sự bất hợp lý này. Nếu không các nguồn lực sẽ không được phân bố hiệu qua. Ngoài ra. và nhưng chi phí hay lợi ích ngoại vi sẽ không được phản ánh trong giá cả của các đồ vật. các chi phí hoặc lợi ích này (chi phí ngoại vi hoặc lợi ích ngoại vi) lại không được tính đến trong hệ thống giá cả và thị trường.. luật pháp. Sự ổn định kinh tế rõ ràng là điều mà mọi Nhà nước đều mong muốn và nó có lợi cho tất cả mọi người.. Các khoản thuế hay biện pháp trợ cấp tối ưu đều được coi là phương thức để Nhà nước xứ lý những yếu tố ngoại vi. 2. ổn định kinh tế vĩ mô cũng có thể xem như là hàng hoá công cộng. một nền kinh tế không thể "cất cánh" được trừ phi nó có được một cơ sở hạ tầng vững chắc. trường hợp một nhà máy có thể làm ra một loại sản phẩm rất rẻ nhưng lại làm ô nhiễm môi trường. Nhà nước có thể sử đụng một hệ thống thuế. Đặc điểm của nền kinh tế thị trường là sự bất ổn định do các cuộc khủng hoảng chu kỳ. Do vậy. Ví dụ. nên các phí tổn sản xuất không được tính đến trong hệ thống giá. đó là xây dựng cơ sở hạ tầng và ổn định kinh tế vĩ mô. còn những chi phí tư nhân quyết định giá hàng. . nhưng hai ví dụ có thể thấy rõ vai trò của Nhà nước một cách trực tiếp và thường xuyên nhất. mức hình phạt. Nhà nước không dễ dàng quyết định chính xác chi phí ấy là bao nhiêu. Nhà nước còn sử dụng cả chính sách quyền sở hữu công khai nguồn tài nguyên. Bằng sự can thiệp.dụ về hàng hoá công cộng. Vì phía thứ ba không được đền bù cho những khoản chi phí ngoại vi. thậm chí cả mức truy tố để nhằm giảm ô nhiễm. Nhưng cũng do tính không thể phân chia của hàng hoá công cộng mà các tư nhân thấy rằng đầu tư vào đây không có lợi. gây ra sự giảm sút về phúc lợi cho nhưng người khác. cho nên vai trò của Nhà nước là tạo ra sự thăng bằng giữa cá nhân và xã hội thông qua việc điều chỉnh sản xuất thừa hoặc tiêu dùng thừa vào chi phí ngoại vi. Tuy nhiên. vì không thể định lượng một cách chính xác tác hại mà sự ô nhiễm ấy có thể gây ra cho xã hội. người ta chỉ mưu toan sử dụng tối đa những phương tiện hay lợi nhuận riêng của mình.

. khuyến khích những hoạt động sáng tạo của các nhà khoa học. tiêu dùng loại sản phẩm này sao cho giá trị đích thực các lợi ích ngoại vi được tính đến trong hệ thống giá thị trường.. kho chứa và các sản phẩm hữu hình khác. cần chú ý tới giáo dục bởi đây là lĩnh vực cần phải có sự quan tâm và hỗ trợ của Nhà nước. công xưởng. Ở đây. trong chừng mực một sán phẩm nào đó có thể tạo ra được lợi ích ngoại vi. nhà máy. nghĩa là không có sự thực thi của luật pháp thì các giao dịch trên thị trường trở nên khó mà có thể thực hiện. Nếu như không có sự đảm bảo cho các thoả thuận ấy. tiền lãi thu về lại có thể rơi vào Nhà nước hoặc các tập đoàn khác.Trong các lợi ích ngoại vi. đồng thời bảo vệ người tiêu dùng chống lại tình trạng độc quyền. trong các nền kinh tế thị trường không có gì bảo đảm để không diễn ra bạo lực và gian lận. Người lao động đã với tư cách cá nhân hay tập thể trong các tổ chức hiệp hội cũng đều có sự thoả thuận nhất định về điều kiện làm việc. bài viết. khuyến khích việc phát huy khả năng trí tuệ của họ.. 3. chẳng hạn như sách. Phạm vi của một chính sách như vậy bao gồm: kiểm soát bằng các biện pháp điều tiết đối với những hãng có khả năng chi phối. phát minh. kiểm soát các vụ việc sát nhập công ty nhằm ngăn ngừa khả năng độc quyền hoá các ngành công nghiệp. nhà ở. Vai trò của Nhà nước trong chính sách cạnh tranh Vai trò này thể hiện ở tập hợp những biện pháp của Nhà nước nhằm cổ vũ cạnh tranh giữa các nhà cung ứng với nhau. hội họa. bào chế thuốc hay chương trình phần mềm. tiền lương với chủ sử dụng lao động. sáng chế. Nhà nước cần xem xét vấn đề trợ cấp tối ưu để khuyến khích sản xuất. Ngoài ra. hồ sơ. lợi ích ngoại vi lại có thể dẫn đến sản xuất thiếu. phim ảnh. Nếu không có sự đảm bảo ấy. Đây là một sự can thiệp rất quan trọng của Nhà nước trong việc bảo vệ bản quyền tác giả và qua đó. Tình hình đó cũng giống như đối với quan hệ giữa người chủ và người làm công. sự bảo hộ đó còn được áp dụng cho cả các sở hữu liên quan tới trí tuệ. Đó là lý do tại sao Nhà nước cần phải có lưu trữ văn bản. đảm bảo các hợp đồng mua bán tất cả các loại sản phẩm. những điều luật về phá sản và khả năng thanh toán. 4. một số người sẽ gặp phải những rủi ro nếu đầu tư thời gian và tiền vốn của mình vào lĩnh vực kinh doanh mà rốt cuộc. Vai trò của Nhà nước trong việc tạo dựng bộ khung xã hội và luật pháp Để thực hiện đúng đắn chức năng phân phối của mình. nền kinh tế thị trường đòi hỏi một loạt thể chế phát triển cao. hệ thống tài chính với ngân hàng trung ương và các ngân hàng thương mại để giữ cho việc cung cấp tiền mặt được thực hiện một cách nghiêm ngặt… Thật vậy. vì trong khi chi phí ngoại vi có thể dẫn đến sản xuất thừa thì ngược lại. chứng từ về đất đai. Sự bảo hộ của Nhà nước đối với sở hữu tư nhân thể hiện một cách rõ ràng đối với đất đai. Nhà nước trong các nền kinh tế thị trường cần phải thiết lập và bảo vệ quyền sở hữu tư nhân. trong đó có hệ thống pháp lý để chống lại bạo lực và gian lận bao gồm: hệ thống có liên quan tới những quyền sở hữu. Cả người mua lẫn người bán đều muốn là khi cả hai phía đã đồng ý trao đổi thì sự thoả thuận nhất định phải được thực hiện. thiết kế. Thế nhưng. cung như quyền được hưởng các lợi ích kinh tế xuất phát từ việc sử dụng quyền sở hữu đó. các nghệ sĩ. sự can thiệp cửa Nhà nước là cần thiết. kiểm soát các hành vi chống cạnh tranh.

Vai trò của Nhà nước đối với vấn đề thu nhập và phúc lợi Trong nền kinh tế thị trường. Hai là. khả năng kiếm sống ở một số người là rất hạn chế. côta. Tuy nhiên... 5. tình hình sẽ trở nên nan giải khi một ngành công nghiệp bị chi phối bởi một số rất ít các Công ty lớn. Tuy nhiên. Ở đây có hai ý kiến trái ngược.. giảm tiết kiệm. Trên thực tế. áp đảo thị trường với mức giá cao. thật đáng tiếc. Nguồn thu nhập đó có thể do thừa hưởng gia tài. hầu hết các nền kinh tế thị trường. các chính phủ đều luôn thực hiện điều đó thông qua chính sách thuế. 6. kể cả Mỹ. Tất cả những cái đó đã hạn chế việc nhập khẩu hàng hoá và địch vụ từ nước ngoài. Trong hầu hết các nền kinh tế thị trường. bảo hiểm y tế. các nhà kinh tế đều thừa nhận rằng. Nhà nước có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao phúc lợi công cộng. giảm đầu tư và do đó sẽ gây nên tổn hại lớn tới cả một nền kinh tế. chính sách của Nhà nước về vấn đề cạnh tranh không phải không có điều bất cập. nhiều khi sự kiểm soát của chính phủ và chính sách chống độc quyền trên thực tế lại dẫn đến giảm cạnh tranh chứ không phải là khuyến khích cạnh tranh. Rõ ràng. Do vậy. Các công ty này có thể cấu kết với nhau thành một tập đoàn hùng mạnh.. có nên thực hiện phân phối lại thông qua thuế thu nhập hay không. Để ngăn chặn tình trạng cấu kết. . xã hội.nghèo trong xã hội. độc quyền và để duy trì cạnh tranh lành mạnh một cách có hiệu quả. đều thông qua đạo luật chống độc quyền. ý kiến ngược lại cho rằng. lương hưu. ý kiến đầu tiên đã giành được nhiều sự ủng hộ hơn của xã hội. vai trò của Nhà nước là không thể thiếu được trong việc phân phối lại thu nhập để trong chừng mực cho phép. Giá đó đủ lớn đề thừa nhận vai trò nhất định của Nhà nước trong việc điều tiết để duy trì cạnh tranh thông qua một hệ thống đạo luật không ngừng được củng cố. có thể thu hẹp lại khoảng cách giàu . Song. chương trình phân phối lại của Nhà nước thông qua thuế thu nhập sẽ làm cho người lao động giảm động cơ làm việc để tăng thu nhập. trong các nền kinh tế thị trường.. giảm nghèo. Do vậy.. thuế. mà là mức độ thực hiện ra sao để vẫn có thể khích lệ được mọi thành phần lao động trong việc tạo ra của cải và tiết kiệm trong việc chi dùng những của cải ấy. đồng thời khống chế việc thâm nhập vào thị trường của các Công ty nhỏ hơn đang cạnh tranh với họ. đặc biệt là thuế thu nhập nhằm tạo ra sự công bằng hơn trong phân phối. Các chính sách này bao gồm: giấy phép độc quyền sản xuất một loại hàng hoá và dịch vụ nào đó. trong khi đó. số khác lại có nguồn thu nhập rất lớn. Vai trò của Nhà nước trong các chính sách tài chính và tiền tệ Nhà nước trong các nền kinh tế thị trường đóng một vai trò rất lớn trong việc tạo ra các điều kiện kinh tế để thị trường tư nhân có thể phát huy hết hiệu quả hoạt động của mình. sức khoẻ. có thể do tài năng hoặc sự thành đạt trong kinh doanh hay trong các quan hệ chính trị. Các vấn đề như việc làm.Nói tới độc quyền là nói tới thị trường chỉ có một người cung cấp. cái giá tiềm tàng cho phép các Công ty lớn (hoặc một nhóm các Công ty cấu kết với nhau) giành được vị trí độc quyền trong các ngành công nghiệp chủ chốt là rất cao. xoá đói. trợ cấp khó khăn… luôn là những vấn đề rất cần đến sự quan tâm của Nhà nước. nhằm thu nhiều lợi nhuận. Thông thường. ý kiến ủng hộ vai trò của Nhà nước trong việc hạn chế sự tập trung tài sản và duy trì sự lan toả các năng lực kinh tế giữa cá chủ sở hữu. điều bàn cãi không còn là ở chỗ Nhà nước có nên tạo ra quỹ phúc lợi hay không. Một là.

ổn định giá cả và tăng trưởng liên tục của nền kinh tế. Khi tăng chi tiêu vào thời điểm thất nghiệp cao và lạm phát thấp. giảm thuế. do đó tạo ra được một thu nhập quốc dân khả dụng lớn hơn để đưa vào luồng tiêu đùng. lịch sử vẫn chưa quên thời kỳ trầm trọng của siêu lạm phát ở Đức những năm 20. Đó là khó xác định chính xác thời điểm của vấn đề cần giải quyết để từ đó. Bởi vì. Để cân bằng lại những biện pháp tài chính cố ý này. Chính sách tài chính được điều hành một cách độc lập với chính sách tiền tệ là chính sách nhằm điều tiết hoạt động kinh tế bằng cách kiểm soát việc cung ứng tiền. Điều thật tai hại là có khi đến lúc chính sách Nhà nước phát huy tác đụng thì khó khăn ban đầu đã tự giải quyết xong và đang chuyển sang một hướng hoàn toàn khác hẳn. Trong những trường hợp như thế. Tuy nhiên. đảm bảo công ăn việc làm. được chấp nhận rộng rãi.Một trong các vai trò đó là tạo ra một thị trường tiền tệ ổn định. Điều đó có nghĩa là kích cầu vì tiêu dùng là bộ phận cấu thành lớn nhất và ổn định nhất của tổng cầu. Còn trong những thời kỳ kinh tế "quá nóng". Cùng với việc giảm tiền và tăng lãi suất. Những tác động của nó chưa ro ràng khi cả lạm phát và thất nghiệp xảy ra đồng thời.một nhân tố có thể đẩy nhanh cả lạm phát lẫn thất nghiệp. khi thì nạn thất nghiệp tăng cao. Trong thời kỳ lạm phát cao và thất nghiệp thấp thì ngược lại. các chính sách tài chính và tiền tệ đều điều chỉnh lại mức chi tiêu của cả một nền kinh tế quốc dân. Ngày nay. giảm cung ứng tiền. nhưng lại không thể đối phó với sự giảm đột ngột về cung . dẫn tới giảm lãi suất (tức giám giá đồng tiền). trừ các trường hợp liên quan tới thiên tai và thảm hoạ chiến tranh. các nền kinh tế thị trường luôn rơi vào tình trạng bị đe doạ bởi khi thì đồng tiền tăng giá đột ngột. Trong lịch sử. Chính sách tài chính bao gồm các chính sách thuế và chi tiêu ngân sách của Nhà nước nhằm điều tiết chu kỳ kinh tế. các chính sách này đã trở thành giải pháp hữu hiệu để khắc phục lạm phát và giải quyết việc làm. chính phủ làm ngược lại. có khả năng loại bỏ hệ thống giao dịch cồng kềnh. và kết quả là thu hẹp lại sản lượng và việc làm. thuê thêm công nhân. đồng thời khuyến khích đầu tư. chính sách hỗn hợp cho phù hợp. Nhà nước đã tăng cung ứng tiền. Trong những thời kỳ kinh tế suy giảm. khi cả thế giới lâm vào tình trạng thất nghiệp. các chủ doanh nghiệp có thể mở rộng sản xuất. vừa có tình trạng lạm phát. Mặc dù các giai đoạn đó thường diễn ra nhẹ nhàng. nhờ đó ngân hàng mới có nhiều điều kiện cho vay và chi tiêu cho tiêu dùng được tăng lên. thời gian chờ đợi các chính sách phát huy tác dụng không phải là ngày một ngày hai. Nhà nước tạo ra nhưng cái gọi là cơ chế ổn định. như thuế thu nhập luỹ tiến và phụ cấp thất nghiệp. Có một vài nguyên nhân cho sự hạn chế này. đặc biệt cuộc đại suy thoái kinh tế thế giới những năm 30 của thế kỷ XX. Trước năm 1960. kéo dài không lâu khoảng một năm hoặc ngắn hơn. Lãi suất thấp. kém hiệu quả và đồng thời có khả năng duy trì giá trị tiền tệ thông qua các chính sách hạn chế lạm phát. Khi cả thất nghiệp và lạm phát xảy ra đồng thời. khi thì vừa có tình trạng thất nghiệp. nếu có tăng thì cũng rất chậm. Nhà nước “làm nguội" nền kinh tế bằng cách tăng lãi suất. chính sách tài chính và tiền tệ không được áp dụng rộng rãi để ổn định các chu kỳ kinh doanh. cả chỉ tiêu lẫn giá cả đều có xu hướng giảm hoặc ít nhất. các chính sách ổn định kinh tế vĩ mô tỏ ra không cần thiết và thậm chí có khi còn phản tác dụng. Ngoài ra. chính phủ có thể rơi vào tình trạng tiến thoái lưỡng nan. đưa ra các biện pháp. chính sách tài chính có tác dụng kích cầu và sản xuất bằng cách Chính phủ tăng mua. Tình trạng này đã xảy ra .

mà còn xuất phát từ tính đặc thù của .xã hội do khủng hoảng đó gây ra. Nhà nước có thể tăng cường các biện pháp khuyến khích sản xuất. sự điều hành của Nhà nước đối với quá trình phát triển kinh tế.Phát huy vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay chính là cách thiết thực góp phần bảo đảm công bằng xã hội.vào những năm 70 của thế kỷ XX. Từ rất sớm. tại Đại hội X.xã hội của dân tộc trong thời kỳ hội nhập toàn cầu. Ở Việt Nam hiện nay. khắc phục sự trì trệ và kìm hãm của các nguồn lực quan trọng. có thể nói. Đặc biệt Nhà nước trong một nền dân chủ là công cụ có thể làm dịu đi phần lớn những tác động tiêu cực của hệ thống thị trường. trong khi vẫn duy trì được quyền sở hữu và quyền tự do. điều tiết nền kinh tế của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”(1).xã hội và mở rộng nền dân chủ cũng chính là nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế -xã hội. vì sự phát triển dân chủ. nền kinh tế mà chúng ta đang xây dựng phải có sự quản lý của Nhà nước. chúng ta mới thấy tính phi lý của cái gọi là “thị trường tự do”. chúng ta đã khẳng định. Nhà nước chỉ nên chú trọng tới những lĩnh vực mà thị trường không thể làm được. Nói cách khác. cho dù Nhà nước là tác nhân quan trọng. dẫu Nhà nước không thể cung cấp phương thuốc bách bệnh trong cuộc đấu tranh muôn thuở với lạm phát và thất nghiệp trong các nền kinh tế thị trường thì nó vẫn được coi là nhân tố tích cực trong việc điều hoà các ảnh hưởng của chúng. Và. Như vậy. hoặc mức độ làm được không thể hoàn hảo bằng sự can thiệp của Nhà nước. Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một trong những vấn đề căn bản của triết lý phát triển ở Việt Nam hiện nay. Như vậy. Vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay TCCS . Đảng ta nhấn mạnh sự cần thiết phải “bảo đảm vai trò quản lý. song vẫn giữ được bản sắc chính trị . làm thay cho tất cả các hoạt động thị trường. Để đối phó với cú sốc cung này đối với nền kinh tế quốc dân. khắc phục các cuộc khủng hoảng kinh tế . dẫn tới giá cả tăng nhanh trong nền kinh tế các nước công nghiệp hoá. khi có lệnh đình chỉ xuất khẩu đầu của các nước sản xuất dầu. vai trò của Nhà nước đối với kinh tế không chỉ xuất phát từ yêu cầu phổ biến của quá trình phát triển kinh tế thị trường. Không phải đến khi khủng hoảng tiền tệ xuất phát từ Mỹ năm 2008 gây ảnh hưởng lan tỏa ra hầu khắp thế giới như hiện nay. tiết kiệm và đầu tư. Những vấn đề được phân tích ở trên chính là những lĩnh vực mà Nhà nước có thể phát huy đầy đủ nhất vai trò điều tiết của mình. “bàn tay vô hình”. sự giảm cung sẽ dẫn đến tình trạng giá cả tăng nhanh trong khi đó thì sản xuất và việc làm lại giảm. Kiên trì tư tưởng đó. Hầu hết các nhà kinh tế hiện nay đều thừa nhận tầm quan trọng của Nhà nước trong cuộc đấu tranh chống lạm phát và thất nghiệp thông qua các chính sách ồn định dài hạn. cùng những giải pháp cơ bản mà các nước đang sử dụng với hy vọng ngăn ngừa những kết cục bi thảm về mặt kinh tế . tăng hiệu quả cạnh tranh băng cách giảm sự độc quyền. song điều đó không có nghĩa là Nhà nước có thể bao biện. Trong xã hội hiện đại. không thể thiếu được trong một nền kinh tế. chính hệ thống chính trị dân chủ có thể đóng góp hiệu quả nhất vào hoạt động của nền kinh tế thị trường. văn minh của đất nước.

Nhà nước có vai trò to lớn trong việc bảo đảm sự ổn định vĩ mô cho phát triển và tăng trưởng kinh tế. định hướng chủ quan (ý chí của Đảng. Nhà nước thông qua hệ thống chính sách. quan điểm. hình thức sở hữu tập thể. chương trình. quan điểm. Nhà nước có cơ chế. pháp luật. sở hữu tập thể. trao đổi và tiêu dùng. chính đáng của người lao động là một vấn đề có tính nguyên tắc.. Pháp luật. can thiệp vào lĩnh vực phân phối và phân phối lại theo hướng ưu tiên phân phối theo lao động và qua phúc lợi xã hội. hoạch định các chính sách xóa đói.xã hội của Nhà nước chỉ đúng. cụ thể hóa mục tiêu chính trị của Đảng. chúng phải được thể chế hóa thành hệ thống pháp luật. đền ơn đáp nghĩa. Xét ở mặt này. chính sách.. dưới sự quản lý của Nhà nước do Đảng lãnh đạo. giảm nghèo. tổ chức. tạo ra sự đồng thuận xã hội trong hành động vì mục tiêu phát triển của đất nước. nên mang đậm dấu ấn của quan hệ xã hội. hợp lý và kịp thời của việc hoạch định và năng lực tổ chức thực hiện các chính sách phát triển vĩ mô do Nhà nước đảm nhiệm là điều kiện tiên quyết nhất hình thành sự đồng thuận đó. tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động trực tiếp hay thông qua các khâu trung gian nhất định tham gia quá trình hoạch định. kết hợp tăng trưởng kinh tế với thực hiện công bằng xã hội. giám sát. làm cho kinh tế nhà nước từng bước vươn lên nắm vai trò chủ đạo. để đường lối. tư tưởng chỉ đạo của Đảng biến thành hiện thực vận động của nền kinh tế. Là những công cụ tạo ra sự đồng thuận xã hội. lợi ích giữa người và người. Thị trường. khi chúng phản ánh chính xác yêu cầu phát triển khách quan của thị trường. kinh tế nhà nước cùng kinh tế tập thể tạo thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân. ba hình thức sở hữu (hình thức sở hữu nhà nước.xã hội và được triển khai bằng Nhà nước. hình thức sở hữu tư nhân) là một đòi hỏi khách quan của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay. Trên lĩnh vực quản lý: Nhà nước xây dựng cơ chế. Đương nhiên. đòn bẩy kinh tế để định hướng. Song. sở hữu tư nhân). cùng với việc bảo đảm lợi ích hợp lý của doanh nhân. thông qua Nhà nước. Bài viết này chỉ tập trung vào khía cạnh thứ hai vừa nêu. chúng mang tính khách quan. vừa sử dụng các nguồn lực . Xét từ giác độ đó. thể hiện ở cả ba lĩnh vực kinh tế cơ bản sau: Trên lĩnh vực sở hữu: Sự tồn tại của ba chế độ sở hữu (sở hữu toàn dân. nên cũng có mặt chủ quan. kế hoạch phát triển kinh tế . Tính đúng đắn. Trên lĩnh vực phân phối: Nhà nước vừa thông qua hệ thống chính sách kinh tế do mình hoạch định. kiểm tra việc thực hiện các kế hoạch phát triển của doanh nghiệp. của thể chế chính trị mà nền kinh tế đó tồn tại. sự phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay bị chi phối và nhằm phục vụ cho định hướng xã hội chủ nghĩa.để định hướng. thì việc ưu tiên bảo vệ lợi ích hợp pháp.. trong sự phát triển kinh tế thị trường ở nước ta. Đặc biệt. kế hoạch phát triển kinh tế . chính sách để bảo đảm sự ưu tiên đó.. Nhà nước có tác động trực tiếp nhất tới việc định hướng sự vận động của kinh tế thị trường. Nhưng chúng lại là sự thể chế hóa. kinh tế thị trường là một kiểu quan hệ giữa người với người trong sản xuất. từ đó mà có ổn định xã hội cho phát triển và .nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Với mức độ đáng kể. tư tưởng chỉ đạo của Đảng Cộng sản cầm quyền. “ổn định” ở đây thể hiện sự cân đối.trực tiếp là bộ phận kinh tế nhà nước . nhân tố sâu xa bảo đảm định hướng chính trị đối với kinh tế là đường lối. chương trình. hài hòa các quan hệ nhu cầu. lấy quy luật thị trường làm cơ sở. của Nhà nước và nhân dân ta) là ở chỗ. Trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Nhà nước ta cũng có vai trò to lớn trong việc bảo đảm gia tăng phúc lợi xã hội. Có chính sách xã hội hợp lý. tạo lập sự phân công lao động theo ngành. công bằng xã hội được thể hiện đầy đủ ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển kinh tế là một nhiệm vụ cơ bản của Nhà nước ta trong việc thực hiện chức năng phát triển. nhà nước góp phần cung cấp thông tin thị trường cho các chủ thể kinh tế để các chủ thể này chủ động lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh. một mặt. ngăn chặn các xu hướng phát triển kinh tế không có lợi cho quảng đại người lao động.ngang nhau cho sự phát triển đất nước thì được hưởng ngang nhau. Ở nước ta hiện nay. công bằng xã hội trên lĩnh vực kinh tế được biểu hiện không chỉ ở chỗ lao động ngang nhau thì được hưởng thụ ngang nhau. Từ đó. pháp luật kinh tế không gây ra những biến đổi trong hiện thực kinh tế. Song. tạo vị thế cho kinh tế nhà nước có sức mạnh định hướng xây dựng mô hình kinh tế cho phép giải phóng con người. là nhân tố có vai trò quyết định trong vấn đề này. vùng kinh tế qua việc nhà nước tiến hành quy hoạch phát triển kinh tế theo lợi thế từng vùng. Chỉ duy nhất nhà nước có được chức năng này. ngành và nhu cầu chung của xã hội. văn minh”. khai thác những cơ quan truyền thông mạnh nhất của quốc gia. như tạo lập kết cấu hạ tầng kinh tế cho sản xuất.tăng trưởng kinh tế.. dân chủ.. nhất quán và kịp thời bao nhiêu. Vai trò của nhà nước đối với sự phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng thể hiện ở việc nhà nước góp phần đắc lực vào việc tạo môi trường cho thị trường phát triển. việc bảo đảm yêu cầu thực hiện tiến bộ. Là chủ thể trực tiếp sở hữu hoặc quản lý.đóng góp cả về vật chất lẫn tinh thần trong quá khứ cũng như trong hiện tại . Đây là một nhiệm vụ lâu dài.. Hệ chuẩn pháp luật kinh tế của nhà nước càng được xây dựng đồng bộ. Để thực hiện các mục tiêu đó.. Năng lực điều hành kinh tế bằng pháp luật là một thước đo đánh giá sự trưởng thành và vai trò của nhà nước trong kinh tế.. Công bằng xã hội là một động lực của sự phát triển xã hội nói chung. bảo đảm phúc lợi ngày một gia tăng nhờ hiệu quả tác động của chính sách kinh tế tiến bộ do Nhà nước hoạch định và tổ chức thực hiện bằng những nỗ lực của nhiều chủ thể kinh tế khác nhau. tự nó. Nhà nước chính là thiết chế chủ yếu đảm đương nhiệm vụ này. các chính sách. bởi mục tiêu căn bản của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là góp phần thực hiện “dân giàu. xã hội công bằng. điều quan trọng nhất là Nhà nước tạo lập khung khổ pháp lý cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra hiệu quả. của mọi chủ thể kinh tế.. nước mạnh. mặt khác. chúng phải được đưa vào vận hành. đối tác kinh tế. Một trong những mục tiêu của quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà Nhà nước hướng tới là xóa bỏ tình trạng vi phạm công bằng xã hội. thời điểm thực . phải tôn trọng tính đa dạng về nhu cầu. phải phản ánh đúng những nhu cầu chung của xã hội.. mà còn ở chỗ cống hiến . lợi ích cụ thể của các chủ thể đó. Nhà nước chủ động tham gia kinh tế thị trường nhằm bảo hộ cho hình thức tổ chức sản xuất chứa đựng các yếu tố của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa và tạo điều kiện cho chúng phát huy ưu thế của mình. càng có tác động tích cực tới sự vận hành của nền kinh tế bấy nhiêu. nghề. tăng trưởng kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Để cho các luật kinh tế trở thành tác nhân kích thích phát triển kinh tế. pháp luật của Nhà nước. của sự phát triển và tăng trưởng kinh tế bền vững nói riêng. lưu thông hàng hóa. đúng đắn.

lấy lợi ích của dân tộc đáp ứng đúng nhu cầu phát triển khách quan của xã hội làm mục tiêu hoạt động của mình. tư tưởng Hồ Chí Minh) làm một trong những . Nhà nước ta có tác động rất mạnh và trực tiếp tới việc nâng cao năng lực sản xuất. chủ thể nhà nước có năng lực trí tuệ đủ tầm để nắm bắt.. các hiệp định kinh tế.Lê-nin. Bằng hệ thống chính sách giáo dục.đào tạo do Nhà nước thống nhất quản lý.đào tạo.xã hội. liên kết trong nước và với nước ngoài.. Sự kiện đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) thành công là chứng minh rõ rệt cho điều này. liên doanh. Cùng với tác động của hệ thống luật kinh tế và sự đầu tư trực tiếp vào kinh tế. vì dân.tiền tệ. Bằng chính sách hội nhập đúng đắn và năng lực tổ chức thực hiện có hiệu quả chính sách đó. Nhà nước ta là chủ thể chính của nền giáo dục . Trong điều kiện cụ thể ở Việt Nam hiện nay. Đây là nhân tố có tác động trực tiếp thúc đẩy nền kinh tế thị trường vận động phù hợp với quy luật nội tại của nó. khi có tác nhân khởi thủy từ phía nhà nước. có chất lượng cho sản xuất kinh doanh.. Tính khách quan của nó được thể hiện và thực hiện thông qua hoạt động có ý thức của con người. Ngoài những nỗ lực của nhà nước trong sự đồng tình của nhân dân. Song. do dân. Nhà nước còn định hướng nền kinh tế qua các công cụ gián tiếp là chính sách kinh tế. Việc nhấn mạnh vai trò của Nhà nước trong việc định hướng sự phát triển của nền kinh tế thị trường ở nước ta không mâu thuẫn với vấn đề có tính nguyên tắc: sự vận hành của nền kinh tế thị trường nào cũng trước hết và chủ yếu do các quy luật thị trường quyết định... Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay. được thực hiện qua hệ thống giáo dục . môi trường an ninh . được hỗ trợ đắc lực từ phía nhà nước. Dựa trên việc nhận thức đúng đắn những yêu cầu của các quy luật trong nền kinh tế thị trường. Nhà nước cung cấp nguồn lao động chính. Đại diện cho đất nước tham gia vào các quá trình soạn thảo và thông qua chuẩn mực luật pháp kinh tế. giữa doanh nghiệp và các cơ quan công quyền. Nhà nước ta góp phần tạo cho chủ thể kinh tế của đất nước vị trí có lợi trong quan hệ kinh tế quốc tế. nâng cao hiệu quả của kinh tế thị trường nói chung. như chính sách tài chính . xác định đúng bước đi để hiện thực hóa chúng. đào tạo của mình. cách thức sản xuất kinh doanh có hiệu quả nhất trong điều kiện cụ thể của mình. Nhà nước ta là nhà nước của dân. khi lợi ích chân chính mà nhà nước theo đuổi phù hợp với quy luật phát triển khách quan của xã hội nói chung.. Qua đó.hiện các giao dịch kinh tế. các nghị định thư. cung cấp cán bộ quản trị doanh nghiệp cho mọi thành phần. nâng cao hiệu quả quản lý nền kinh tế. ngoài công lập. mọi loại hình kinh tế. dù tồn tại dưới nhiều loại hình khác nhau (công lập.trật tự. nhà nước góp phần khởi đầu và có tác động tích cực vào quá trình thiết lập quan hệ quốc tế. chính sách đầu tư... của kinh tế thị trường nói riêng. Song. sự giao lưu kinh tế. sự thống nhất đó chỉ có được. Muốn sản xuất phải có an toàn về môi trường xã hội. kế hoạch phát triển kinh tế . vận dụng yêu cầu của các quy luật kinh tế vào việc hoạch định các chính sách phát triển. an toàn trong quan hệ giữa người và người.). Nhà nước ta lấy hệ tư tưởng cách mạng và khoa học (chủ nghĩa Mác . xét về bản chất. chính sách. không lực lượng nào khác có thể tạo lập được những yêu cầu an toàn như vậy.. Nhà nước cụ thể hóa những yêu cầu đó thành luật.. môi trường kinh doanh. quy luật kinh tế thị trường lại thuộc lĩnh vực quy luật xã hội. hội nhập kinh tế quốc tế của mọi quốc gia chỉ có hiệu quả cao. chính sách thu nhập và việc làm.. Ở đây có sự thống nhất giữa khách quan và chủ quan.

Năm 2008. thực thi các chính sách khắc phục tình trạng suy giảm kinh tế gần đây.000 cán bộ quản lý.. năm 2004 là 35. tỷ lệ này đạt 31%.2000: 7%/năm. không ngừng được nâng cao: thời kỳ 1986 .7% năm 2005. Năm 1995. GDP bình quân đầu người mới đạt 289 USD.15% và những năm gần đây đều có xu hướng tăng lên. có hơn 8.. 80% là nguồn vốn vay ưu đãi.000 USD. năm 2005: 639 USD. Do vậy. Năm 2007. năm 2007 đạt 8.000 dự án đầu tư FDI với tổng vốn đăng ký 74 tỉ USD. nhìn chung.000 cán bộ kỹ thuật. tỷ lệ tích lũy so với GDP mới đạt 2. nhưng nguồn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam lại tăng kỷ lục: vốn đăng ký 64 tỉ USD. Vai trò của Nhà nước ta đối với kinh tế càng bộc lộ rõ nét trong ban hành. Nhà nước đã đưa ra 8 nhóm giải pháp cấp bách. Từ năm 1988 đến hết năm 2006. 2001 . Nhà nước đã có nhiều chính sách phát huy vai trò các nhân tố nội lực. Để góp phần giữ vững độc lập tự chủ trong phát triển kinh tế. GDP bình quân theo đầu người đã đạt trên 1. Nhà nước đã có nhiều chính sách về giáo dục . năm 2007: 835 USD.9%. Nhà nước ta đã có nhiều tác động tích cực trong việc bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình phát triển nền kinh tế này.2005: 7.cơ sở xuất phát quan trọng để hoạch định chiến lược phát triển kinh tế. thu nhập của nhân dân đã có bước cải thiện đáng kể.2 tỉ USD. dù phải đối mặt với không ít khó khăn.5% năm 1996 tăng lên 19. Nhà nước cũng có nhiều chính sách khai thác ngoại lực. trong đó. Với mức thu nhập này. Thực tiễn phát triển nền kinh tế thị trường hơn 20 năm đổi mới cho thấy. 1996 .. Nhờ đó. Về nỗ lực nâng cao tích lũy từ nội bộ nền kinh tế: năm 1990.23%.5%/năm. 30. từ đó có độc lập tự chủ trên con đường phát triển đất nước nói chung. Số lao động tốt nghiệp phổ thông trung học từ 13.đào tạo để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.. tăng trưởng GDP bình quân đạt 4. tốc độ tăng trưởng kinh tế.5 triệu người. Đó là hai nhân tố bảo đảm có sự thống nhất giữa tính khách quan của quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và việc phát huy vai trò của nhà nước xã hội chủ nghĩa với tư cách là một nhân tố chủ quan tác động tích cực tới sự phát triển của nền kinh tế đó. Nhìn lại hơn 20 năm đổi mới. đào tạo được 8. Biểu hiện rõ nhất là Nhà nước đã hoàn thiện Luật Đầu tư.1990. thu hút được nhiều vốn ODA. xuất khẩu của khu vực này chiếm khoảng 50% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. biến ngoại lực thành nội lực cho sự phát triển. chúng ta coi trọng trước hết nhân tố con người. nguồn vốn ODA từ các nước.48%. Trên cơ sở tiên định những diễn biến xấu có thể xảy ra. Việc từng bước hoàn thiện hệ thống chính sách về chế độ sở hữu và cơ cấu thành phần kinh tế đã góp phần thúc đẩy chuyển dịch theo hướng tạo động lực và điều kiện thuận lợi hơn cho khai thác các tiềm năng trong và ngoài nước để phát triển kinh tế. đến nay. nhưng Việt Nam vẫn đạt mức tăng trưởng GDP là 6.5%/năm. cung cấp việc làm cho khoảng 50 vạn người và việc làm gián tiếp cho 2. dù kinh tế thế giới suy thoái.. các tổ chức tài chính quốc tế cấp cho Việt Nam đạt hơn 40 tỉ USD. Năm 2006. Một tiêu chí quan trọng đánh giá tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế là hướng sự phát triển của nó vào việc nâng cao đời sống của nhân dân. trong đó các dự án mới chiếm 60. Trong năng lực nội sinh. Năm 2008. Việt Nam vượt qua ngưỡng nước thu nhập thấp(2). Năm 2008.xã hội. và bằng việc tổ . coi trọng tích lũy từ nội bộ nền kinh tế. Năm 1996 mới có 12..31% lực lượng lao động được đào tạo.. FDI. khu vực FDI đóng góp gần 30% cho tăng trưởng kinh tế.

cần tiếp tục phân định rạch ròi chức năng quản lý hành chính nhà nước đối với kinh tế và quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Kinh tế vĩ mô ổn định: thu chi ngân sách được cân đối.3% so với năm 2007. vừa có tính lâu dài đó sẽ nâng cao hơn nữa hiệu quả tác động của Nhà nước tới sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa. bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ sở hữu. Cần xác định rõ. hiệu lực tác động của Nhà nước tới phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay. Rất nhiều người lãnh đạo cũng là nhà quản lý và ngược lại. cần cải cách thể chế xây dựng chính sách. chưa có giải pháp mang tầm đột phá để kinh tế nhà nước thực sự hoàn thành tốt chức năng chủ đạo trong nền kinh tế.4 tỉ USD. đặc biệt là hoàn thiện hệ thống pháp luật về sở hữu. Nhà nước cần sớm hoàn thiện thể chế của nền kinh tế thị trường. tăng 26. tích cực đấu tranh chống các hành vi độc đoán. tạo môi trường thuận lợi cho tăng trưởng kinh tế. tháng 11 giảm 0. Tuy nhiên. chỉ số giá tiêu dùng không ngừng giảm: tháng 9-2008 tăng 0..19%. tháng 12 giảm 0. tổng thu ngân sách nhà nước vượt mức dự toán cả năm. tham nhũng trong bộ máy nhà nước. năng lực cạnh tranh của nền kinh tế thấp. Hệ thống luật này phải khẳng định và bảo vệ sự tồn tại khách quan. vượt kế hoạch đề ra. vận hành suôn sẻ. Kim ngạch xuất khẩu đạt 62. tệ quan liêu. Nhà quản lý . Nhà nước đã góp phần tích cực vào việc kiềm chế lạm phát.. kim ngạch nhập khẩu đạt 80./ Người lãnh đạo và Nhà quản lý Khác biệt lớn nhất giữa lãnh đạo và quản lý nằm ở biện pháp thúc đẩy những nhân viên dưới quyền. tháng 10 giảm 0. đặc biệt là kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội. Việc giải quyết có hiệu quả những vấn đề vừa có tính cấp bách.9 tỉ USD. Để nâng cao năng lực của bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế. Cùng với vấn đề then chốt trên. Nhà nước cần làm tốt chức năng hỗ trợ cho toàn xã hội sản xuất hàng hóa công cũng như tư. quản lý nhà nước về kinh tế còn nhiều bất cập. chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường. kinh tế tập thể còn rất yếu kém. chuyên quyền. Những thành tựu này có vai trò to lớn trong việc giữ vững ổn định xã hội. việc phát huy vai trò của Nhà nước đối với sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay cũng còn những hạn chế đáng kể: thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa còn chưa được xây dựng đồng bộ. lâu dài tính đa dạng của các hình thức sở hữu.76%.. hiện đại hóa đất nước và hội nhập toàn cầu hiện nay. tăng 28% so với năm 2007. Để nâng cao hơn nữa hiệu quả..68%.chức thực hiện có hiệu quả các giải pháp đó. nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Nhà nước ta là cung cấp môi trường pháp lý tin cậy cho các chủ thể kinh tế phát huy tối đa năng lực của họ.18%. song hai vị trí này không phải lúc nào cũng song hành như vậy.

mặc dù họ không phải quá liều lĩnh. và giao lại cho cấp dưới. và nhân viên được trả công một khoản ít nhất bằng lương của họ. họ lại không thân thiện với người thừa hành để luôn tạo được sự nghiêm nghị cần thiết. Phương pháp quản lý là cảm hóa. Việc tập trung vào yếu tố con người không có nghĩa là người quản lý không quan tâm tới công việc. Điều này khiến cho họ không chấp nhận mạo hiểm và họ luôn tìm kiếm những biện pháp để tránh xung đột. Sau đó. Họ luôn đối xử tốt với con người. ngược lại họ thường khá tập trung vào kết quả. . Kết quả của một nghiên cứu thú vị cho thấy các nhà quản lý thường xuất thân từ những gia đình có nền tảng vững chắc và thường sống cuộc sống bình thường và thoải mái. người lãnh đạo cần chỉ rõ việc thực hiện theo yêu cầu sẽ đem lại lợi ích thế nào đối với người thừa hành. song đây vẫn chưa phải phẩm chất nổi bật của họ. được doanh nghiệp trao quyền và được giao việc cho các nhân viên. Trong quá trình đạt tới mục tiêu. Cũng theo nghiên cứu cho thấy các nhà quản lý muốn tránh mạo hiểm. thực tế. Người lãnh đạo Người lãnh đạo có người thừa hành mà không có nhân viên dưới quyền. với nguồn nhân lực và nguồn vốn hữu hạn.Nhà quản lý có nhân viên thuộc cấp. những người lãnh đạo vĩ đại tạo ra niềm tin bằng cách nâng cao uy tín của người khác và tự gánh lấy chỉ trích. Tập trung vào con người. Tập trung vào công việc. nhà quản lý phân những sứ mạng này thành từng nhiệm vụ cụ thể. nhà quản lý giao việc và nhân viên thực hiện. Tìm kiếm mạo hiểm. Nhà quản lý được trả lương để hoàn thành một sứ mạng cụ thể. Tìm kiếm sự thoải mái. Do đó họ khá thoải mái trong việc chấp nhận rủi ro và thường coi những việc khó khăn mà người khác tránh là những cơ hội tốt và sẵn sàng phá vỡ các quy luật để chinh phục bằng được. người lãnh đạo coi việc vấp phải khó khăn và vượt qua là việc tự nhiên. Tuy nhiên. họ nhận ra tầm quan trọng của việc khuyến khích người khác làm việc theo định hướng của họ. và người lãnh đạo không thể chỉ giao việc mà không truyền cảm hứng cho người thừa hành. những người lãnh đạo thường tìm kiếm mạo hiểm. Phương pháp quản lý là trao đổi. Mặc dù rất nhiều người lãnh đạo có sức lôi cuốn quần chúng. Việc chấp hành lệnh là việc làm tự nguyện.

You're Reading a Free Preview

Descarregar
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->