Pháp luật Kinh tế

CHƯƠNG I ĐẠI CƯƠNG VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
I. ĐẠI CƯƠNG VỀ NHÀ NƯỚC 1. Nguồn gốc và sự ra đời của Nhà nước Nhà nước là một hiện tượng xã hội phức tạp. Muốn hiểu rõ và đầy đủ, khái niệm, bản chất của Nhà nước, cần phải làm sáng tỏ nguồn gốc, sự ra đời của Nhà nước. Có nhiều quan điểm giải thích khác nhau về vấn đề này. Các nhà tư tưởng theo thuyết thần học cho rằng, Thượng đế là người sắp đặt trật tự xã hội. Nhà nước cũng do Thượng đế tạo ra để bảo vệ trật tự chung; Nhà nước là lực lượng siêu nhiên, và đương nhiên quyền lực nhà nước là vĩnh cửu và sự phục tùng quyền lực ấy là tất yếu. Những nhà tư tưởng theo thuyết gia trưởng lại chứng minh rằng, Nhà nước là kết quả của sự phát triển gia đình, là hình thức phát triển tự nhiên của con người. Nhà nước tồn tại trong mọi xã hội, và quyền lực nhà nước, về bản chất, cũng giống như quyền gia trưởng của người đứng đầu gia đình vậy. Nhằm chống lại sự chuyên quyền độc đoán của Nhà nước phong kiến, đòi hỏi sự bình đẳng cho giai cấp tư sản trong việc tham gia nắm quyền lực nhà nước, đa số học giả tư sản đều tán thành quan điểm Nhà nước là sản phẩm của “khế ước xã hội” được ký kết trước hết bởi những con người sống trong trạng thái tự nhiên không có Nhà nước; vì vậy, Nhà nước phản ánh lợi ích của các thành viên trong xã hội và mỗi thành viên đều có quyền yêu cầu Nhà nước phục vụ và vì lợi ích của họ. Khi nhà nước trở nên chuyên quyền, độc đoán, không bảo vệ được lợi ích của người dân thì khế ước hết hiệu lực và xã hội phải ký kết một khế ước mới để thành lập ra nhà nước mới tiến bộ hơn. Những quan điểm trên đều kết luận Nhà nước ra đời, tồn tại và phát triển tách rời những điều kiện vật chất của xã hội, tách rời với những cơ sở kinh tế. Họ cho rằng Nhà nước là một thiết chế phải có của mọi hình thái xã hội, một lực lượng cần thiết cho phép xã hội tồn tại, một trọng tài công minh từ bên ngoài áp đặt vào xã hội, đứng trên xã hội để giải quyết các tranh chấp, duy trì xã hội trong tình trạng ổn định và phồn vinh. Theo những quan điểm đó, Nhà nước nước không thuộc một giai cấp nào, Nhà nước là của chung mọi người trong xã hội, là một phạm trù vĩnh cửu và bất biến. Khi nghiên cứu nguồn gốc, sự ra đời của Nhà nước, các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác có một quan điểm khác, rằng Nhà nước là sản phẩm của mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh giai cấp không thể điều hòa; Nhà nước không phải là một phạm trù vĩnh cửu, bất biến mà là một phạm trù lịch sử, có phát sinh, phát triển và cũng sẽ tiêu vong; Nhà nước chỉ xuất hiện khi xã hội phát triển đến một mức độ nhất định và cũng sẽ tiêu vong khi những điều kiện khách quan cho sự tồn tại của nó không còn nữa. Nghiên cứu nguồn gốc của Nhà nước, chủ nghĩa Mác xuất phát từ việc xem xét các cơ sở kinh tế-xã hội, cách tổ chức xã hội, các quy tắc xử sự chung đã xuất hiện trong xã hội như thế nào, bắt đầu từ hình thái kinh tế-xã hội Cộng sản nguyên thủy. 1

Pháp luật Kinh tế

1.1. Chế độ cộng sản nguyên thủy - Tổ chức Thị tộc, Bào tộc, Bộ lạc Chế độ cộng sản nguyên thủy là hình thái kinh tế-xã hội xuất hiện đầu tiên trong lịch sử loài người. Trong xã hội này không có giai cấp, không có Nhà nước và cũng không có Pháp luật, nhưng trong lòng nó chứa đựng những nhân tố làm nẩy sinh Nhà nước và Pháp luật. Cơ sở kinh tế đặc trưng cho xã hội Cộng sản nguyên thủy là chế độ công hữu về tư liệu sản xuất và năng suất lao động ở mức rất thấp. Tương ứng với chế độ kinh tế ấy, xã hội được hình thành bằng các “bầy người nguyên thủy”. Trước tiên, họ xuất hiện từng nhóm nhỏ, gồm những người du mục cùng nhau kiếm ăn và tự bảo vệ, do một thủ lĩnh cầm đầu, dần dần xã hội loài người tiến đến một hình thức bền vững hơn, đó là Công xã Thị tộc. Việc sản xuất tập thể và phân phối tập thể yêu cầu phải thiết lập một chế độ sở hữu công cộng của Công xã về đất đai, gia súc,... Thị tộc là hình thức tổ chức xã hội đầu tiên, là đặc thù của chế độ Cộng sản nguyên thủy phát triển, được hình thành theo huyết thống và lao động tập thể cùng với tài sản chung. Quan hệ huyết thống là khả năng duy nhất để tập hợp các thành viên vào một tập thể sản xuất, có sự đoàn tụ chặt chẽ, có kỷ luật tự giác. Việc quản lý xã hội do một Tù trưởng đảm nhiệm, thường là một già làng, là người có uy tín do tất cả thành viên của Thị tộc bầu lên. Khi có xung đột giữa các Thị tộc khác nhau, một Thủ lĩnh quân sự được bầu ra để chỉ huy việc chiến đấu và tự vệ. Tù trưởng và Thủ lĩnh quân sự cùng lao động như mọi thành viên khác của Thị tộc. Họ có thể bị bãi miễn. Quyền lực của họ cũng có tính cưỡng bức, nhưng hoàn toàn dựa trên uy tín và sự ủng hộ của các thành viên trong Thị tộc. Ở xã hội này không có một bộ máy cưỡng chế riêng. Những công việc quan trọng đều do Hội Nghị Toàn Thể Thành viên của Thị tộc quyết định, còn việc thi hành thì do Tù trưởng đảm nhiệm. Thị tộc cũng cần đến quyền lực để duy trì trật tự, quyết định sự tồn vong của xã hội. Thị tộc cũng cần một hệ thống tổ chức để thực hiện quyền lực. Hệ thống đó rất đơn giản, bao gồm: -Hội đồng Thị tộc: Hội đồng Thị tộc là tổ chức quyền lực cao nhất của Thị tộc, bao gồm tất cả thành viên đã trưởng thành của Thị tộc, bàn bạc, ra quyết định tập thể về những vấn đề liên quan đến Thị tộc. Quyết định của Hội đồng Thị tộc thể hiện ý chí của toàn bộ thành viên, nên về cơ bản, được mọi thành viên của Thị tộc tự giác thực hiện. Trường hợp có một thành viên nào đó không tự giác chấp hành, phải chịu quyết định cưỡng chế của tập thể Thị tộc. -Tù trưởng: là người đứng đầu Thị tộc do Hội Nghị Toàn Thể bầu ra trong số người cao tuổi. Tù trưởng không có đặc quyền so với thành viên khác, nhưng có quyền lực rất lớn, bởi uy tín và sự ủng hộ của mọi thành viên trong Thị tộc. Trong xã hội Cộng sản nguyên thủy quyền lực đã tồn tại, có hiệu lực thực tế rất cao, tính cưỡng chế mạnh, nhưng đó là quyền lực xã hội. Quyền lực ấy có đặc điểm: ♦ Không tách rời khỏi xã hội, hòa nhập và thuộc về xã hội, do toàn thể thành viên xã hội tổ chức ra; ♦ Phục vụ lợi ích cả cộng đồng; 2

Pháp luật Kinh tế

♦ Không có bộ máy cưỡng chế riêng để thực hiện sự cưỡng chế. Bào tộc là tổ chức cao hơn Thị tộc, do một số Thị tộc có quan hệ hôn nhân với nhau hợp thành. Bào tộc hình thành vào giai đoạn xã hội có một trình độ phát triển nhất định. Bào tộc là một liên minh bao gồm nhiều Thị tộc hợp lại. Tổ chức quyền lực cũng tương tự như trong Thị tộc nhưng mức độ tập trung cao hơn. Hội Đồng Bào Tộc bao gồm các Tù trưởng và Thủ lĩnh quân sự của các Thị tộc. Hội đồng quyết định những vấn đề quan trọng của Bào Tộc. Bộ lạc hình thành ở giai đoạn phát triển cao và là hình thức tổ chức cuối cùng của xã hội Cộng sản nguyên thủy. Bộ lạc bao gồm nhiều Bào tộc liên minh lại. Tổ chức quyền lực cũng tương tự như trong Thị tộc và Bào tộc nhưng ở mức độ tập trung cao hơn. Dù vậy, quyền lực vẫn mang tính xã hội, phục vụ lợi ích chung của mọi thành viên trong Bộ lạc. 1.2. Sự tan rã của chế độ Cộng sản nguyên thủy và sự xuất hiện Nhà nước Xã hội Cộng sản nguyên thủy có tổ chức Thị tộc, Bào tộc hay Bộ lạc, và đã xuất hiện quyền lực xã hội, nhưng các tổ chức ấy chưa phải là Nhà nước, song đã có mầm mống, tiền đề làm nẩy sinh những cơ sở vật chất cho sự ra đời của Nhà nước. Những nguyên nhân làm cho chế độ Cộng sản nguyên thủy tan rã cũng đồng thời là nguyên nhân làm xuất hiện Nhà nước. Trong quá trình lao động, con người rút được kinh nghiệm cải tiến công cụ sản xuất, đặc biệt sự xuất hiện các công cụ bằng kim loại, năng xuất lao động tăng nhanh và lực lượng sản xuất có một bước tiến nhảy vọt, khiến cho hoạt động kinh tế ngày càng đa dạng, phong phú, đòi hỏi có sự phân công lao động theo chuyên môn hóa. Ở vào thời kỳ cuối của chế độ Cộng sản nguyên thủy đã lần lượt xảy ra ba lần phân công lao động lớn: ♦ Lần phân công lao động thứ nhất ngành chăn nuôi tách khỏi ngành trồng trọt; ♦ Lần phân công lao động thứ hai, thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp; ♦ Lần phân công thứ ba thương nghiệp ra đời. Sau mỗi lần phân công lao động, xã hội có những bước tiến mới, thúc đẩy quá trình tan rã của chế độ Cộng sản nguyên thủy. Sau lần phân công lao động đầu tiên, chế độ tư hữu đã xuất hiện, xã hội đã có sự phân chia thành kẻ giàu, người nghèo. Chế độ tư hữu làm xuất hiện chế độ hôn nhân từ quần hôn đến chế độ một vợ một chồng, là điều kiện để các gia đình nhỏ được hình thành và trở thành những đơn vị kinh tế độc lập, tự quyết định sản xuất và định đoạt sản phẩm do kết quả sản xuất của mình tạo ra. Gia đình xuất hiện đe dọa đời sống cộng đồng thị tộc. Trong quá trình lao động, nhờ tích lũy được kinh nghiệm, có cơ hội, một số người trở lên giàu có, trong lúc một số khác lại rất nghèo khó. Cùng với hiện tượng phân hóa trên, các Tù trưởng, Thủ lĩnh quân sự lợi dụng quyền lực của Thị tộc trước đây giao cho để phục vụ lợi ích riêng và trở thành giai cấp bóc lột. Trong lúc đó một bộ phận khác là đa số dân cư không còn tư liệu sản xuất, lâm vào tình cảnh khốn khổ, cùng với tù binh chiến tranh hợp thành một giai cấp - giai cấp nô lệ bị bóc lột. Quyền lợi hai bộ phận dân cư này, hai giai cấp, một 3

Pháp luật Kinh tế

giai cấp phải lao động để phục dịch cho giai cấp kia, giai cấp những người không lao động, chỉ hưởng thụ bằng lao động của người khác - giai cấp bóc lột. Xã hội xuất hiện giai cấp và mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa. Cuộc đấu tranh một mất một còn giữa hai giai cấp, giai cấp thống trị và giai cấp bị trị, là điều không tránh khỏi. Xã hội có nguy cơ diệt vong. Trước tình hình xã hội như vậy, quyền lực công cộng của Thị tộc và hệ thống quản lý của nó chỉ phù hợp với một xã hội không có mâu thuẫn nội tại, nay không còn phù hợp nữa, đòi hỏi phải có một tổ chức mới. Tổ chức đó phải dập tắt xung đột công khai giữa các giai cấp, giữ cho công chúng ở trong vòng trật tự ổn định, bảo vệ quyền lợi của giai cấp nắm kinh tế, giai cấp thống trị. Tổ chức đó là Nhà nước. Như vậy, Nhà nước xuất hiện trực tiếp từ sự tan rã của chế độ Cộng sản nguyên thủy. Nhà nước không phải là một hiện tượng ngẫu nhiên, cũng không phải là hiện tượng tất yếu của mọi hình thái kinh tế-xã hội, mà là sự phát triển nội tại của xã hội. Tiền đề kinh tế của sự ra đời của Nhà nước là chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất. Tiền đề kinh tế là cơ sở vật chất chủ yếu tạo ra tiền đề xã hội cho sự ra đời Nhà nước, đó là sự phân chia xã hội thành giai cấp và sự đối kháng giai cấp không thể điều hòa. Dĩ nhiên, Nhà nước không xuất hiện ngay một lúc. Quá trình đó diễn ra rất chậm chạp, qua nhiều giai đoạn. Ở mỗi vùng, mỗi dân tộc, do có sự khác nhau về lịch sử, địa lý, hoàn cảnh..., sự xuất hiện Nhà nước không hoàn toàn giống nhau. 2. Bản chất và đặc điểm của Nhà nước Bản chất của Nhà nước là vấn đề mấu chốt, cơ bản trong mọi thời đại, trong toàn bộ nền chính trị, vì nó đụng chạm đến lợi ích của giai cấp thống trị. Làm rõ bản chất Nhà nước tức là xác định Nhà nước của ai, là công cụ của giai cấp nào, phục vụ chủ yếu cho giai cấp nào trong xã hội. Từ sự phân tích nguồn gốc của nhà nước, qua thực tiễn lịch sử, học thuyết của chủ nghĩa Mác-Lênin khẳng định, xét về bản chất, Nhà nước trước hết là một bộ máy trấn áp đặc biệt của giai cấp này đối với giai cấp khác trong xã hội, là bộ máy để duy trì sự thống trị của giai cấp. Trong xã hội có giai cấp đối kháng, sự thống trị của giai cấp này đối với giai cấp khác thể hiện trên mọi lĩnh vực: kinh tế, chính trị, tư tưởng... Muốn đạt được thống trị, giai cấp thống trị phải sử dụng công cụ Nhà nước như là một công cụ sắc bén có hiệu lực nhất, thông qua Nhà nước, giai cấp thống trị thực hiện sự thống trị giai cấp đối với toàn xã hội. Nói bản chất của Nhà nước là tính giai cấp không có nghĩa là phủ định hoàn toàn vai trò xã hội của Nhà nước, dù đó là Nhà nước của giai cấp bóc lột. Một Nhà nước sẽ khó tồn tại nếu chỉ phục vụ lợi ích đơn thuần của giai cấp thống trị mà không tính đến lợi ích, nguyện vọng tối thiểu của các giai tầng khác trong xã hội. Trong một chừng mực nào đó, Nhà nước phải thực hiện đầy đủ mọi chức năng xã hội của mình như vấn đề an toàn và an ninh quốc gia, vấn đề thiên tại, địch họa... Học thuyết Mác-Lênin về Nhà nước chỉ rõ Nhà nước có những đặc điểm sau: 1) Nhà nước thiết lập một quyền lực công cộng đặc biệt, hầu như tách khỏi xã hội không còn hòa nhập vào dân cư như trong chế độ Thị tộc; 4

Pháp luật Kinh tế

2) Nhà nước phân chia dân cư theo lãnh thổ thành đơn vị hành chính không phụ thuộc chính kiến, huyết thống, nghề nghiệp hoặc giới tính; 3) Nhà nước có chủ quyền quốc gia; 4) Nhà nước nước ban hành pháp luật và thực hiện sự quản lý bắt buộc đối với mọi tầng lớp dân cư; 5) Nhà nước quy định và thực hiện việc thu các loại thuế dưới hình thức bắt buộc. Từ sự phân tích nguồn gốc, bản chất và các dấu hiệu đặc trưng của nhà nước, có thể nêu lên một khái niệm chung Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, có một bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện chức năng quản lý, nhằm thực hiện mục đích và lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội có giai cấp. 3. Chức năng của Nhà nước Chức năng nhà nước là những phương diện hoạt động của Nhà nước nhằm thực hiện những mục tiêu của nhà nước đề ra. Chức năng nhà nước được xác định xuất phát từ bản chất nhà nước, do cơ sở kinh tế và cơ cấu giai cấp của xã hội quyết định, phản ánh tập trung và đầy đủ bản chất của Nhà nước. Chức năng nhà nước luôn gắn liền với từng giai đoạn phát triển của chính bản thân Nhà nước, phụ thuộc vào mục đích và yêu cầu hoạt động của Nhà nước trong từng giai đoạn phát triển xã hội và chi phối nhiệm vụ cụ thể của Nhà nước. Chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước là hai khái niệm rất gần gũi với nhau nhưng không đồng nhất. Chức năng là phương diện hoạt động mang tính định hướng. Để thực hiện chức năng của mình, Nhà nước có thể xác định các nhiệm vụ trong mỗi giai đoạn phát triển với hoàn cảnh cụ thể. Nhiệm vụ của Nhà nước là bước cụ thể hóa chức năng nhà nước, thể hiện cụ thể bản chất nhà nước. Căn cứ vào phạm vi hoạt động của Nhà nước, chức năng của Nhà nước được phân biệt thành chức năng đối nội và chức năng đối ngoại. Hai chức năng này có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại và thống nhất với nhau, thể hiện bản chất nhà nước và mục đích của mỗi nhà nước trong mỗi thời kỳ phát triển nhất định. - Chức năng đối nội biểu hiện vai trò của Nhà nước trong việc thực hiện quyền lực chính trị trong nuớc với hai nội dung chính: 1)Trấn áp và bảo vệ, 2) Tổ chức và xây dựng. - Chức năng đối ngoại biểu hiện vai trò và quan điểm của Nhà nước trong mối quan hệ với các nước khác và các tổ chức quốc tế. Nội dung chủ yếu là hợp tác hữu nghị với các dân tộc, các quốc gia và bảo vệ đất nước trước khả năng xâm lược của kẻ thù bên ngoài. Để thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại của mình, Nhà nước sử dụng nhiều hình thức hoạt động khác nhau, chủ yếu là xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện và bảo vệ pháp luật. Nội dung của các hình thức đó tùy thuộc vào bản chất của Nhà nước, tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế-xã hội và tương quan lực lượng giai cấp trong từng giai đoạn phát triển của Nhà nước. 5

Pháp luật Kinh tế

Về phương pháp thực hiện các chức năng nhà nước, có sự khác nhau giữa các kiểu nhà nước. Nhìn chung, có hai phương pháp chủ yếu là thuyết phục và cưỡng chế. Đối với các Nhà nước của giai cấp bóc lột thì phương pháp cưỡng chế là chủ yếu, còn với Nhà nước xã hội chủ nghĩa thì lại coi trọng công tác thuyết phục, động viên. 4. Kiểu nhà nước và Hình thức nhà nước 4.1. Khái niệm kiểu nhà nước Kiểu nhà nước là tổng thể các dấu hiệu cơ bản (đặc trưng) của nhà nước, thể hiện bản chất giai cấp, vai trò xã hội và những điều kiện phát sinh phát triển của nhà nước trong một hình thái kinh tế-xã hội nhất định. Bản chất của nhà nước trong các thời kỳ khác nhau của quá trình phát triển xã hội là rất khác nhau. Để phân biệt chúng, lý luận Mácxít về Nhà nước và Pháp luật đã đưa ra khái niệm Kiểu nhà nước. Đây được coi là một trong các khái niệm cơ bản của Lý luận khoa học về Nhà nước và Pháp luật. Tính chất một hình thái kinh tế-xã hội quy định những nét đặc trưng cơ bản của kiểu nhà nước tương ứng. Trong lịch sử xã hội đã tồn tại năm hình thái kinh tế-xã hội cơ bản, tương ứng với đó là bốn kiểu nhà nước: + Hình thái kinh tế-xã hội Cộng sản nguyên thủy, nhà nước chưa xuất hiện, + Hình thái kinh tế-xã hội chiếm hữu nô lệ có kiểu nhà nước chủ nô; + Hình thái kinh tế-xã hội phong kiến có kiểu nhà nước phong kiến; + Hình thái kinh tế-xã hội tư bản chủ nghĩa có kiểu nhà nước tư sản; + Hình thái kinh tế-xã hội xã hội chủ nghĩa có kiểu nhà nước xã hội chủ nghĩa. Mỗi kiểu nhà nước có tính đặc thù của nó. Những nét đặc thù đó biểu hiện ở việc nhà nước đó là của giai cấp nào và bảo vệ giai cấp nào, giai cấp nào là giai cấp thống trị, giai cấp lực lượng nào bị thống trị. Sự thay thế một kiểu nhà nước này bằng một kiểu nhà nước khác tiến bộ hơn là một quy luật tất yếu, quy luật về sự thay đổi kiểu nhà nước phù hợp với quy luật về sự phát triển và thay thế giữa các hình thái kinh tế-xã hội. Kiểu nhà nước cũ được thay thế bằng kiểu nhà nước mới thông qua một cuộc cách mạng xã hội. Nhà nước mới được xuất hiện trong quá trình cách mạng khi giai cấp cầm quyền cũ đã bị lật đổ và giai cấp thống trị mới đã giành được chính quyền. Các cuộc cách mạng xã hội trong lịch sử đã tuân theo quy luật đó. Nhà nước phong kiến thay thế nhà nước chủ nô, nhà nước tư sản thay thế nhà nước phong kiến, nhà nước xã hội chủ nghĩa thay thế nhà nước tư sản, và đều phải trải qua những cuộc bạo lực cách mạng xã hội. Nhà nước xã hội chủ nghĩa là tiến bộ nhất và là kiểu nhà nước cuối cùng trong lịch sử xã hội... 4.2. Khái niệm Hình thức nhà nước Nếu kiểu nhà nước chỉ rõ quyền lực nhà nước thuộc về ai, phục vụ lợi ích của giai cấp nào thì hình thức nhà nước là cách thức thực hiện quyền lực ấy. Hình thức nhà nước là cách tổ chức nhà nước và phương pháp hoạt động của nhà nước trong việc quản lý xã hội, có vai trò quan trọng trong việc thực hiện sự thống trị giai cấp. 6

Pháp luật Kinh tế

Hình thức nhà nước do bản chất của nhà nước quy định. Các nhà nước khác nhau có hình thức nhà nước khác nhau. Hình thức nhà nước chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố, quan trọng nhất là tương quan lực lượng các giai cấp trong xã hội. Đấu tranh giai cấp trong xã hội có vai trò quyết định trong việc hình thành và xác định hình thức nhà nước. Các yếu tố như truyền thống dân tộc, tập quán lịch sử, tình hình chính trị khu vực và thế giới... cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến việc hình thành hình thức của một nhà nước cụ thể. Hình thức nhà nước là một khái niệm tổng quát được hình thành từ ba khái niệm: hình thức chính thể; hình thức cấu trúc và chế độ chính trị. a)Hình thức chính thể là cách thức và trình tự lập ra cơ quan tối cao của nhà nước. Hình thức chính thể chỉ cho chúng ta biết cách thức và trình tự lập ra cơ quan nhà nước tối cao nắm quyền lực của nhà nước đó. Trong lịch sử phát triển xã hội, tồn tại hai hình thức chính thể cơ bản: Chính thể quân chủ và chính thể cộng hòa. Chính thể quân chủ là hình thức mà trong đó quyền lực tối cao của nhà nước tập trung vào một người (Vua, Hoàng đế..) và theo nguyên tắc thừa kế, cha truyền con nối. Chính thể Cộng hòa là chính thể, trong đó quyền lực tối cao của nhà nước thuộc về một tập thể được bầu ra theo nhiệm kỳ, theo quy định của Hiến pháp của nhà nước. Hình thức chính thể quân chủ gồm hai loại: chỉnh thể quân chủ tuyệt đối và chính thể quân chủ lập hiến. Chính thể quân chủ tuyệt đối, là chính thể mà trong đó toàn bộ quyền lực nhà nước thuộc về Nhà vua, nhà nước không có Hiến pháp. Hình thức quân chủ lập hiến là chính thể mà trong đó tồn tại Vua, nhưng đồng thời có Nghị viện được lập ra theo Hiến pháp nhằm hạn chế quyền lực nhà vua và giai cấp phong kiến. Tùy thuộc vào mức độ hạn chế quyền lực của nhà vua và sự phân quyền giữa nhà vua và nghị viện mà hình thức chính thể quân chủ lập hiến còn phân biệt thành hình thức quân chủ nhị nguyên và quân chủ đại nghị. Quân chủ nhị nguyên là chính thể phân chia quyền lực song phương giữa Nhà vua và Nghị viện, trong đó Nghị viện nắm quyền lập pháp và Nhà vua nắm quyền hành pháp. Chính thể này đã từng tồn tại ở Nhật, Đức...vào cuối thể kỷ XIX, hiện không còn nữa. Quân chủ đại nghị là chính thể, mà trong đó, quyền lực thực tế của Nhà vua không còn tác động đến lập pháp và cũng rất hạn chế đến lĩnh vực hành pháp và tư pháp. Loại chính thể này hiện còn tồn tại ở nhiều nhà nước tư sản như Anh, Bỉ, Hà Lan, Na Uy, Đan Mạch, Nhật Bản,.... Ở các nước đó, Nhà vua hầu như không có quyền lực cũng như không có trách nhiệm gì đáng kể trong hệ thống chính trị. Hình thức chính thể cộng hòa có hai hình thức: Cộng hòa dân chủ và Cộng hòa quý tộc. Trong chính thể cộng hòa dân chủ, các tầng lớp dân cư được tham gia bầu cử để lập ra cơ quan đại diện nhà nước như Quốc hội hoặc Nghị viện. Trong loại này ở các nước tư bản còn phân biệt thành Cộng hòa Tổng thống và Cộng hòa Đại nghị. Trong cộng hòa quý tộc, pháp luật chỉ ghi nhận quyền bầu cử tối riêng các tầng lớp quý tộc giàu có (phổ biến trong kiểu nhà nước chủ nô và nhà nước phong kiến)

7

Pháp luật Kinh tế

b)Hình thức cấu trúc chỉ sự cấu tạo nhà nước thành nhiều đơn vị lãnh thổ và xác lập các mối quan hệ qua lại giữa các cơ quan nhà nước, giữa trung ương và địa phương. Có hai hình thức: nhà nước đơn nhất và nhà nước liên bang. Nhà nước đơn nhất là nhà nước có lãnh thổ toàn vẹn, có chủ quyền chung, có hệ thống cơ quan quyền lực và quản lý thống nhất từ trung ương tới địa phương và các đơn vị hành chính lãnh thổ như: tỉnh, huyện, xã... Trong nhà nước đơn nhất chỉ có một Hiến pháp và một hệ thống pháp luật thống nhất. Nhà nước liên bang là nhà nước có hai hoặc nhiều bang thành viên hợp lại với nhau. Trong nhà nước liên bang có hai hệ thống cơ quan quyền lực và cơ quan quản lý nhà nước. Một hệ thống chung cho toàn liên bang và một hệ thống riêng cho mỗi tiểu bang thành viên, vừa có chủ quyền quốc gia chung vừa có chủ quyền mỗi tiểu bang. Cùng tồn tại với Hiến pháp và hệ thống pháp luật chung của liên bang có hệ thống pháp luật riêng của mỗi bang thành viên. c)Chế độ chính trị của nhà nước là tổng thể các phương pháp, phương tiện và thủ đoạn mà Nhà nước sử dụng để thực hiện quyền lực nhà nước. Thông qua nghiên cứu chế độ chính trị của một nhà nước, chúng ta thấy rõ ai thực hiện quyền lực, bằng cách nào, ai có quyền quyết định tối cao về mặt nhà nước. Trong lịch sử về các kiểu nhà nước, các giai cấp thống trị đã sử dụng nhiều phương pháp, thủ đoạn để thực hiện quyền lực nhà nước, quyền lực chính trị. Những phương pháp thủ đoạn được sử dụng trong một kiểu nhà nước do bản chất giai cấp của nhà nước ấy quyết định, mặt khác có ảnh hưởng nhất định từ điều kiện và hoàn cảnh lịch sử xảy ra trong xã hội có nhà nước đó. Có nhiều phương pháp, thủ đoạn để giai cấp thống trị thực hiện quyền lực của mình, từ tinh vi, nham hiểm đến công khai, hợp pháp... Có thể chia thành hai loại: Phương pháp dân chủ và phương pháp phản dân chủ (độc tài). Phương pháp dân chủ cũng có nhiều loại: dân chủ chân thực và dân chủ giả hiệu; dân chủ rộng rãi và dân chủ hạn chế; dân chủ trực tiếp và dân chủ gián tiếp. Phương pháp phản dân chủ thể hiện tính độc tài, độc đoán, cũng có nhiều loại: hợp pháp, bất hợp pháp. Khi cần bảo vệ lợi ích của giai cấp cầm quyền, chúng không từ bỏ một thủ đoạn nào, miễn là đạt được mục tiêu duy trì được địa vị thống trị của giai cấp mà nhà nước đại diện. II. ĐẠI CƯƠNG VỀ PHÁP LUẬT 1. Khái niệm, bản chất của Pháp luật Nhà nước và Pháp luật là hai hiện tượng xã hội gắn liền với nhau. Trong đời sống xã hội, giữa con người với con người có những mối quan hệ với nhau rất phức tạp, C.Mác gọi đó là quan hệ xã hội. Để xã hội được ổn định, không bị rối loạn, trong bất cứ xã hội nào, con người cũng cần phải tuân theo những quy tắc xử sự thống nhất, không một ai được có những xử sự theo ý riêng của mình. Trong xã hội có giai cấp, có nhà nước thì nhiệm vụ quan trọng nhất của nhà nước là quản lý xã hội trong vòng trật tự để thực hiện mục đích và phục vụ lợi ích của giai cấp cầm quyền - giai cấp thống trị xã hội. Quy tắc xử sử do nhà nước đặt ra để quản lý xã hội là pháp luật. 8

Pháp luật Kinh tế

Pháp luật là quy tắc xử sự chung cho mọi người, do nhà nước xác lập và đảm bảo thực hiện, nhằm bảo vệ lợi ích của một giai cấp nhất định. Nhà nước ban hành pháp luật để quản lý xã hội, song không phải nhà nước đứng trên pháp luật. Nhà nước và pháp luật là hai hiện tượng xã hội xuất hiện khi xã hội phát triển đến một giai đoạn nhất định, có mối quan hệ mật thiết với nhau, đều là sản phẩm của đấu tranh giai cấp và mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa. Đây là luận điểm quan trọng của chủ nghĩa Mác-Lênin về nhà nước và pháp luật. Khi phân tích bản chất và cơ sở kinh tế-xã hội làm xuất hiện pháp luật, Mác và Ăngghen đã chứng minh rằng, pháp luật chỉ phát sinh, tồn tại và phát triển trong xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp. Pháp luật là một bộ phận thuộc thượng tầng kiến trúc của xã hội có giai cấp. Pháp luật luôn biểu hiện ý chí của giai cấp thống trị, ý chí đó phản ánh lợi ích chung của toàn bộ giai cấp. Bản chất của pháp luật là tính giai cấp của nó, không có pháp luật siêu giai cấp như quan niệm của các học giả tư sản. Trong Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, Mác và Ăng ghen đã chỉ rõ: pháp luật luật tư sản là ý chí của giai cấp tư sản được đề lên thành luật; nội dung ý chí đó do điều kiện sinh hoạt vật chất của toàn bộ giai cấp tư sản quy định. Bản chất giai cấp luôn là thuộc tính của bất kỳ kiểu pháp luật nào, nhưng mỗi kiểu pháp luật lại có biểu hiện riêng. Pháp luật chủ nô và phong kiến biểu hiện bản chất giai cấp bóc lột một cách rõ ràng, pháp luật công khai quyền hành vô hạn của chủ nô, tình trạng vô quyền của nô lệ, những đặc quyền đặc lợi của địa chủ và quý tộc. Quyền đó được pháp luật của nhà nước chủ nô và phong kiến ghi nhận và bảo đảm một cách trọn vẹn. Đối với pháp luật tư sản, giai cấp tư sản khi nắm được quyền thống trị, chúng đã tìm cách che dấu bản chất giai cấp bóc lột trong pháp luật tư sản dưới chiêu bài “tự do, bình đẳng, bác ái”. Học giả tư sản cho rằng, pháp luật tư sản thể hiện và bảo vệ lợi ích của mọi giai tầng trong xã hội. Sự thật pháp luật chỉ bảo vệ lợi ích giai cấp nào nắm quyền thống trị về kinh tế mà thôi. Trong xã hội tư sản, tư liệu sản xuất đại bộ phận nằm trong tay giai cấp tư sản bóc lột, và do đó, giai cấp tư sản sẽ nắm quyền thống trị về kinh tế, pháp luật tư sản thực chất là để bảo vệ lợi ích, địa vị thống trị của giai cấp tư sản. Chỉ có pháp luật xã hội chủ nghĩa có cơ sở kinh tế-xã hội để thể hiện ý chí và đảm bảo lợi ích của giai cấp công nhân và đại bộ phận nhân dân trong xã hội. Bên cạnh bản chất giai cấp, pháp luật còn thể hiện tính xã hội, xuất phát từ vai trò xã hội của nhà nước. Không có kiểu pháp luật nào chỉ thể hiện duy nhất bản chất giai cấp và ngược lại cũng không có kiểu pháp luật nào chỉ thể hiện riêng tính xã hội. Bản chất giai cấp và tính xã hội luôn có quan hệ mật thiết với nhau, gắn bó với nhau thành một chỉnh thể và mang lại sự bền vững cho pháp luật. Chẳng hạn, pháp luật xã hội chủ nghĩa cùng với việc thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, trong mỗi hoàn cảnh cụ thể, mỗi giai đoạn phát triển không thể không tính đến lợi ích của các tầng lớp khác trong xã hội. Trong mối quan hệ với nhà nước, pháp luật là cơ sở để nhà nước triển khai thực hiện và phát huy hiệu lực của quyền lực chính trị. Pháp luật là hệ thống các quy tắc 9

Pháp luật Kinh tế

xử sự do nhà nước ban hành, luôn phản ánh những quan điểm, đường lối chính trị của lực lượng nắm quyền lực nhà nước và bảo đảm cho quyền lực đó được triển khai nhanh, rộng trên quy mô toàn xã hội. Ngược lại, pháp luật chỉ tồn tại và có hiệu lực dựa trên sức mạnh của quyền lực nhà nước. Khía cạnh thứ hai của mối quan hệ giữa nhà nước và pháp luật được biểu hiện ở giá trị xã hội của mỗi hiện tượng. Pháp luật dù do nhà nước ban hành, nhưng khi pháp luật được công bố thì trở thành một hiện tượng có sức mạnh công khai, bắt buộc đối với mọi chủ thể, trong đó có cả nhà nước. Nhà nước nói chung, cơ quan nhà nước nói riêng đều phải tôn trọng và thực hiện pháp luật nghiêm chỉnh và triệt để. Đồng thời, nhà nước không thể ban hành pháp luật một cách chủ quan, duy ý chí, không tính đến nhu cầu khách quan, phổ biến của các mối quan hệ xã hội, đến tâm lý xã hội. Khi pháp luật có các bộ phận không còn phù hợp với thực tiễn, nhà nước phải tiến hành sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ để ban hành quy định phù hợp hơn với điều kiện thực tế và sự phát triển của các quan hệ xã hội. Từ những phân tích trên, chúng ta khái niệm Pháp luật là hệ thống những quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung, do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, và được bảo đảm bằng sự cưỡng chế của nhà nước, là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội. 2. Những đặc trưng cơ bản của Pháp luật Pháp luật là ý chí của giai cấp thống trị, cùng với nhà nước, pháp luật ra đời từ nhu cầu bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị, thể hiện ý chí của giai cấp đó. Ý chí của giai cấp thống trị thể hiện trong pháp luật thể hiện ở mục đích xây dựng pháp luật, nội dung xây dựng pháp luật và dự kiến hiệu ứng thực tế của pháp luật khi triển khai vào đời sống thực tế của xã hội. Pháp luật là hệ thống những quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung Quy tắc xử sự được hiểu là khuôn mẫu (thước đo, chuẩn mực), là cách xử sự của con người. Khi có quan hệ với nhau, con người phải dựa vào quy tắc đó để xem xét hành vi của mình, được làm gì, phải làm gì và không được làm gì. Pháp luật chỉ ra các giới hạn cần thiết mà nhà nước quy định để mọi cá nhân, tổ chức có thể xử sự một cách tự do trong khuôn khổ cho phép, vượt quá giới hạn đó là trái pháp luật. Quy tắc xử sự của pháp luật là bắt buộc chung. Đã là quy tắc pháp luật đề ra, thì dù muốn hay không, mọi người cũng phải có các hành vi phù hợp với pháp luật. Tính bắt buộc chung này còn được gọi là tính cưỡng chế của pháp luật. Một nguyên tắc pháp lý xuất phát từ tính bắt buộc của pháp luật là không được đối lập tính hợp lý với pháp luật. Trong thực tế, với một con người, một nhóm người, trong một quan hệ cụ thể, cách xử sự của họ có thể là hợp lý với điều kiện hoàn cảnh của họ, nhưng với pháp luật thì lại không phù hợp; bởi quy tắc của pháp luật chỉ có khả năng phù hợp được với lợi ích chung, đại đa số mà thôi. Đối với pháp luật xã hội chủ nghĩa, tính bắt buộc chung còn thể hiện sự công bằng xã hội của pháp luật. Pháp luật xã hội chủ nghĩa sẽ vô tác dụng, nếu pháp luật không bảo đảm được sự công bằng cần thiết. Pháp luật mang tính cưỡng chế nhà nước 10

Pháp luật Kinh tế

Tính cưỡng chế nhà nước là một đặc điểm chỉ riêng pháp luật mới có. Nhà nước không những đặt ra pháp luật làm quy tắc xử sự của hành vi, mà còn có một hệ thống cơ quan nhà nước đảm bảo cho những quy tắc ấy được thực hiện trong thực tế. Trong đời sống xã hội, hành vi con người còn được điều chỉnh bởi các chuẩn mực quy tắc xử sự khác như đạo đức, tôn giáo, phong tục tập quán... nhưng chỉ có pháp luật được đảm bảo thực hiện bởi sức mạnh cưỡng chế của nhà nước. Các quy tắc xử sự của đạo đức, tập quán, tổ chức xã hội... được mọi người tuân thủ chủ yếu nhờ vào sự tự giác, lòng tin và được đảm bảo bởi dư luận xã hội, sự cưỡng chế bởi lương tâm của con người; nhiều trường hợp là toàn xã hội cưỡng chế đối với một thành viên khi họ không tuân theo quy tắc xử sự chung. Với quy tắc xử sự của pháp luật do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, nếu một thành viên xã hội không chấp hành, tuân thủ thì nhà nước sử dụng cả bộ máy quyền lực như nhà tòa án, cảnh sát, nhà tù... để thực hiện sự cưỡng chế. Pháp luật mang tính ổn định tương đối, là một nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội cũng như góp phần tạo lập các quan hệ xã hội mới, pháp luật phải ổn định trong một thời gian nhất định. Tính ổn định của hạ tầng cơ sở quyết định tính ổn định của pháp luật. Chỉ khi nào lợi ích của giai cấp thống trị thực sự bị đụng chạm, hết sức cần thiết, nhà nước mới thay đổi pháp luật để duy trì một sự ổn định mới. 3. Mối quan hệ giữa Pháp luật và các hiện tượng xã hội khác 3.1. Mối quan hệ giữa Pháp luật và Kinh tế Kinh tế là phạm trù thuộc cơ sở hạ tầng của xã hội, khác với kinh tế, pháp luật là phạm trù thuộc kiến trúc thượng tầng. Trong mối quan hệ với kinh tế, pháp luật có tính độc lập tương đối, một mặt pháp luật phụ thuộc vào kinh tế, mặt khác pháp luật lại có tác động mạnh trở lại đối với kinh tế, là mối quan hệ giữa hạ tầng cơ sở và thượng tầng kiến trúc. Pháp luật là một bộ phận của thượng tầng kiến trúc, phát sinh, phát triển trên cơ sở một hạ tầng kinh tế nhất định. Nội dung của pháp luật do các quan hệ kinh tế-xã hội quyết định, chế độ kinh tế là cơ sở của pháp luật. Sự thay đổi của chế độ kinh tế-xã hội sớm hay muộn cũng dẫn đến sự thay đổi của pháp luật, và pháp luật không thể cao hơn hoặc thấp hơn sự phát triển của kinh tế. Mặt khác, pháp luật có sự tác động trở lại, có thể là tích cực hoặc tiêu cực, đối với sự phát triển kinh tế. Điều đó phụ thuộc vào sự tiến bộ hay lạc hậu của pháp luật. Thậm chí, pháp luật còn định hướng và thúc đẩy sự phát triển của kinh tế. 3.2. Mối quan hệ giữa Pháp luật và Chính trị Chính trị là phạm trù phản ánh các mối quan hệ giữa các giai cấp, các tầng lớp, các dân tộc, trong xã hội, là thái độ của giai cấp thống trị đối với các giai cấp, tầng lớp khác, là sự thống trị của giai cấp cầm quyền. Chính trị còn biểu hiện ở thái độ của nhân dân đối với chính quyền, sự tham gia của họ vào công việc của Nhà nước. Chính trị và pháp luật là hai hiện tượng thuộc thượng tầng kiến trúc, chúng đều bị chi phối và quy định bởi hạ tầng cơ sở. Đây là mối quan hệ tương hỗ, ngang bằng nhau. Chính trị của giai cấp cầm quyền thể hiện tập trung trong đường lối chính sách mà nó đặt ra đối với mọi lĩnh vực của xã hội, biểu hiện sự quy định chức năng, nhiệm 11

Pháp luật Kinh tế

vụ và nội dung hoạt động của nhà nước. Pháp luật là một trong những hình thức biểu hiện cụ thể của chính trị, đường lối, chính sách của giai cấp cầm quyền luôn giữ vai trò chỉ đạo đối với pháp luật. Mặt khác, quyền lực nhà nước tồn tại trong khuôn khổ pháp luật, được pháp luật bảo đảm; đồng thời cũng bị pháp luật hạn chế. Trong mối quan hệ với chính trị, pháp lụật là một biện pháp, một phương tiện phục vụ mục tiêu chính trị. Trong lịch sử xã hội, bất kỳ giai cấp thống trị nào cũng dựa vào nhà nước và bằng hình thức pháp luật để thể hiện và thực hiện quyền lực chính trị của giai cấp mình. Pháp luật trở thành hình thức thể hiện tập trung, trực tiếp, là công cụ sắc bén nhất, hiệu quả nhất để thực hiện các yêu cầu, mục đích và nội dung chính trị của giai cấp cầm quyền. Điều chỉnh pháp luật các quan hệ xã hội cũng bao gồm điều chỉnh quan hệ giai cấp, phục vụ lợi ích cho một giai cấp hoặc một liên minh giai cấp thống trị. Sự ổn định trật tự kỷ cương được thiết lập bởi pháp luật, trước hết là sự ổn định về chính trị, đó là trật tự kỷ cương phục vụ cho sự thống trị của giai cấp cầm quyền. 3.3. Mối quan hệ giữa Pháp luật và Tư tưởng Tư tưởng là một yếu tố của ý thức xã hội, tồn tại dưới dạng học thuyết và lý luận. Hệ tư tưởng là những quan niệm có hệ thống về tư tưởng, có cơ sở lý luận nhất định. Pháp luật chịu ảnh hưởng của hệ tư tưởng đặc biệt, hệ tư tưởng chính thống - hệ tư tưởng của giai cấp thống trị. Pháp luật của nhà nước nào cũng chịu ảnh hưởng của tư tưởng và hệ tư tưởng nhất định. Pháp luật của các quốc gia mà ở đó Thiên chúa giáo là quốc đạo thì bị ảnh hưởng bởi Nhà Thờ. Pháp luật ở các quốc gia Hồi giáo thì chịu ảnh hưởng của đạo Hồi. Ở phương đông, pháp luật chịu ảnh hưởng của hệ tư tưởng Nho giáo... Pháp luật của nhà nước ta được xây dựng trên cơ sở hệ tư tưởng Mác- Lênin, tiếp cận với các hệ tư tưởng được xác định là tinh hoa của nhân loại. Tư tưởng luôn tác động đến pháp luật. Sự tác động đó rõ nét nhất vào những thời kỳ có xung đột xã hội như cải cách xã hội, cải cách thể chế chính trị, kinh tế... Bởi bất kỳ một cuộc cách mạng hay cải cách nào xã hội cũng đều được chuẩn bị về mặt tư tưởng, về lý luận và khoa học. Tuy nhiên, khả năng tác động của tư tưởng đối với pháp luật không phải là tuyệt đối. Bên cạnh tồn tại một hệ tư tưởng chính thống vẫn còn có loại pháp luật chịu ảnh hưởng của tư tưởng cũ. Trong thực tế, pháp luật ở một quốc gia này có thể tồn tại các học thuyết pháp lý của nhiều quốc gia với những hệ tư tưởng khác nhau. Là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội, điều chỉnh hành vi của con người, pháp luật cũng có khả năng tác động lên sự hình thành, phát triển và biến đổi tư tưởng, một thực tại tiềm ẩn và tồn tại sau những hành vi của con người. Pháp luật thừa nhận và khuyến khích sự phát triển của một hoặc nhiều tư tưởng nào đó; pháp luật phủ nhận, hạn chế hoặc xóa bỏ sự phát triển những tư tưởng không phù hợp với lợi ích và đối lập với hệ tư tưởng của giai cấp thống trị. 3.4. Mối quan hệ giữa Pháp luật và Đạo đức Đạo đức là tổng thể những quan niệm là niềm tin nội tâm về thiện và ác, về sự công bằng, nghĩa vụ, trách nhiệm và danh dự giữa những con người trong một cộng 12

Pháp luật Kinh tế

đồng. Trên cơ sở đó những quy phạm đạo đức ra đời, đó là những quy tắc xã hội hướng tới cái thiện, tránh cái ác, làm tròn bổn phận đối với những người có quan hệ với mình. Đạo đức phản ánh theo lẽ phải của con người. Quy phạm đạo đức là lẽ phải được thể hiện thành khuôn mẫu hành vi cụ thể mà con người phải tuân theo, xử sự phù hợp trong các quan hệ xã hội cụ thể. Với tính chất là những nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội, đạo đức và pháp luật có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Chúng đều là những hiện tượng thuộc thượng tầng kiến trúc có mối quan hệ tương hỗ, bình đẳng với nhau. Giữa pháp luật và đạo đức có sự tương đồng: đều mang tính giai cấp sâu sắc. Pháp luật luôn phản ánh đạo đức của giai cấp cầm quyền, tuy nhiên pháp luật không thể không chịu ảnh hưởng bởi đạo đức của các lực lượng, các giai cấp khác và phải phản ánh quan điểm, quan niệm, lợi ích của các lực lượng khác nhau trong xã hội để thích ứng và tựa hồ như thể hiện ý chí của mọi tầng lớp trong xã hội. Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, pháp luật lấy đạo đức làm cơ sở, pháp luật không thể đưa ra những quy phạm trái đạo đức. Giữa pháp luật và đạo đức cũng có những điểm khác nhau: pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do nhà nước đặt ra, biểu hiện ý chí của giai cấp thống trị. Trong lúc đó cùng một xã hội lại tồn tại những đạo đức khác nhau, đạo đức của giai cấp thống trị, của giai cấp bị trị, của những nghề nghiệp khác nhau... Đạo đức không chỉ ra cụ thể tỉ mỉ cho mọi người các hành vi tốt mà chỉ yêu cầu mọi người có hành động trung thực, đúng đạo lý. Còn pháp luật quy định rõ hành vi nào phải thực hiện, hành vi nào không được làm. Ưu thế của pháp luật là nó hướng dẫn cụ thể xử sự của con người. 4. Kiểu pháp luật và Hình thức pháp luật 4.1. Khái niệm Kiểu pháp luật Cũng như kiểu nhà nước, kiểu pháp luật được xác định căn cứ vào cơ sở kinh tếxã hội và lợi ích giai cấp. Học thuyết Mác-Lênin về hình thái kinh tế-xã hội là căn cứ khoa học để phân định các kiểu pháp luật trong lịch sử, trong xã hội có giai cấp, quyết định những đặc trưng cơ bản của kiểu pháp luật. Kiểu pháp luật là tổng thể những đăc trưng cơ bản, đặc thù của pháp luật, thể hiện bản chất giai cấp, tính xã hội và những điều kiện tồn tại, phát triển của pháp luật trong một hình thái kinh tế-xã hội nhất định. Mỗi một kiểu nhà nước có một kiểu pháp luật và do hình thái kinh tế-xã hội quy định. Trong lịch sử xã hội đã tồn tại các kiểu pháp luật tương ứng với các hình thái kinh tế-xã hội sau đây: ♦ Kiểu pháp luật chủ nô tương ứng với hình thái kinh tế-xã hội nô lệ ♦ Kiểu pháp luật phong kiến tương ứng hình thái kinh tế-xã hội phong kiến ♦ Kiểu pháp luật tư sản tương ứng với hình thái kinh tế-xã hội tư bản ♦ Kiểu pháp luật xã hội chủ nghĩa tương ứng với hình thái kinh tế-xã hội XHCN. Mỗi kiểu pháp luật trên đây đều có những nét đặc trưng của nó. Kiểu pháp luật chủ nô có đặc điểm nổi bật là củng cố và bảo vệ quyền chiếm hữu tuyệt đối của chủ nô đối với tư liệu sản xuất, thành quả lao động và chính bản thân người lao động. Pháp luật phong kiến thì công khai xác nhận và bảo đảm thực hiện những đặc quyền, 13

Pháp luật Kinh tế

đặc lợi của giai cấp địa chủ và tầng lớp quý tộc; duy trì tình trạng lệ thuộc nửa tự do của tá điền, họ bị cột chặt vào ruộng đất của địa chủ. Kiểu pháp luật tư sản thì công khai ghi nhận các quyền “tự do, bình đẳng” của con người, nhưng thực chất chỉ là hình thức. Sự thừa nhận pháp lý về quyền tự do chiếm hữu tư nhân về của cải vật chất, chủ yếu là quyền bất khả xâm phạm đối với tư liệu sản xuất, thực chất là bảo vệ vững chắc quyền lợi của giai cấp tư sản khi họ đã chiếm đại bộ phận tư liệu sản xuất, của cải vật chất trong xã hội. Các kiểu pháp luật chủ nô, phong kiến và tư sản là ba kiểu pháp luật khác nhau nhưng chúng đều có bản chất chung là thể hiện ý chí giai cấp bóc lột trong xã hội, bảo đảm về mặt pháp lý sự bóc lột của giai cấp thống trị đối với nhân dân lao động. Khác về bản chất, kiểu pháp luật xã hội chủ nghĩa xây dựng trên một cơ sở kinh tế-xã hội mới, chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, thể hiện ý chí của giai cấp công nhân, bảo vệ quyền và lợi ích của đại đa số nhân dân lao động. 4.2. Khái niệm Hình thức pháp luật Pháp luật là ý chí của giai cấp thống trị, ý chí đó được tồn tại và biểu hiện ra bên ngoài dưới những hình thức nhất định, đó là hình thức vật chất mà nhờ đó con người biết được, cảm nhận được và ý thức được để thực hiện các quy định của pháp luật. Xét dưới các góc độ về thực tiễn và khoa học, hình thức pháp luật không chỉ là phương thức tồn tại của pháp luật mà nó còn chỉ ra mối liên hệ phổ biến mang tính quy luật giữa các yếu tố nội dung của pháp luật. Tuy nhiên, các mối liên hệ phổ biến đó có ý nghĩa trong nghiên cứu và lập pháp. Ở mức độ nhất định, chúng ta quan tâm nhiều đến phương thức tồn tại của pháp luật biểu hiện ra bên ngoài để cho con người nhận biết và thực hiện. Hình thức pháp luật là cách thức mà giai cấp thống trị sử dụng để nâng ý chí của giai cấp mình lên thành pháp luật, trở thành ý chí nhà nước được thực hiện trong đời sống xã hội. Lịch sử phát triển của pháp luật đã ghi nhận ba hình thức pháp luật phổ biến được sử dụng bao gồm Tập quán pháp, Tiền lệ pháp và Văn bản quy phạm pháp luật. a) Tập quán pháp: Tập quán pháp là hình thức pháp luật sơ khai đầu tiên trong lịch sử xã hội. Theo hình thức này, nhà nước thừa nhận một số tập quán đã lưu truyền trong xã hội thành các quy tắc xử sự chung của pháp luật. Những quy tắc xử sự được hình thành trong đời sống thực tế, lưu truyền từ thế hệ này qua thể hệ khác, thành thói quen, tập quán, khi nó phù hợp với lợi ích của giai cấp cầm quyền, được nhà nước thừa nhận và bảo vệ, coi đó là những quy tắc xử sự của pháp luật. Loại hình thức pháp luật này được sử dụng nhiều trong nhà nước chiếm hữu nô lệ và phong kiến. Ở một số nước tư bản hiện đại với chính thể quân chủ lập hiến vẫn còn sử dụng hình thức pháp luật này. Tập quán và phong tục là những cách cư xử trong sinh hoạt hàng ngày, trở thành thói quen, nếp sống của một bộ phận dân cư, một cộng đồng hoặc của toàn xã hội. Tập quán hình thành từ rất sớm và thông thường phản ánh lợi ích chung của toàn xã hội, là cách xử sự của các thành viên trong xã hội hoàn toàn bình đẳng với nhau về 14

Pháp luật Kinh tế

lợi ích, sở hữu và địa vị xã hội. Song trong xã hội có giai cấp đối kháng, đặc biệt trong xã hội hiện đại, không phải mọi phong tục tập quán đều phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị. Do đó, Nhà nước chỉ thừa nhận những tập quán phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị thành pháp luật, mang tính ràng buộc chung đối với tất cả mọi người, các tập quán này tiềm ẩn một quyền lực cưỡng chế. Tóm lại, Tập quán pháp là những tập quán phù hợp với ý chí và lợi ích của giai cấp thống trị, được nhà nước thừa nhận, nâng thành quy tắc xử sự chung đối với toàn xã hội và bảo đảm thực hiện. b)Tiền lệ pháp: Tiền lệ, trong ngôn ngữ Tiếng Việt, được hiểu là những sự việc xảy ra trước thành cái lệ cho những việc về sau. Trong cuộc sống, chúng ta vẫn bắt gặp những xử sự theo tiền lệ hoặc nhằm tạo ra tiền lệ, tiền lệ là cách xử sự tốt hoặc xấu, từng được đa số người chấp nhận. Tiền lệ pháp cũng là những tiền lệ theo nghĩa chung, song có đặc điểm là: Tiền lệ pháp được tạo ra từ hoạt động thực tiễn của cơ quan quản lý hành chính nhà nước hoặc thực tiễn xét xử của cơ quan tòa án. Theo đó, nhà nước thừa nhận những quyết định, bản án của cơ quan hành chính hoặc cơ quan xét xử thành các quyết định mẫu, bản án mẫu để giải quyết các vụ việc tương tự về sau. Trong các nhà nước tổ chức theo nguyên tắc phân quyền như Anh, Mỹ..., Tòa án có vị trí độc lập, có vai trò và uy tín lớn đối với việc giải quyết các xung đột xã hội, thì tiền lệ pháp được hình thành chủ yếu thông qua hoạt động xét xử (trường hợp này bản án mẫu của tòa án được goi là án lệ). Án lệ với tư cách là một hình thức pháp luật có ý nghĩa bắt buộc theo hai chiều, theo chiều dọc, bản án, quyết định của tòa án cấp trên có giá trị bắt buộc đối với tòa án cấp dưới; theo chiều ngang, quyết định, bản án của một tòa án đã tuyên có giá trị bắt buộc ngay chính tòa án này trong việc giải quyết các vụ việc tương tự sau đó. Tiền lệ pháp là hình thức pháp luật được nhà nước thừa nhận trong trường hợp một quyết định của cơ quan quản lý hay cơ quan xét xử khi giải quyết một vụ việc cụ thể làm chuẩn mực cho việc giải quyết những vụ việc tương tự về sau, khi quy tắc xử sự về vụ việc ấy chưa được pháp luật quy định. Như vậy, trong hệ thống pháp luật, có những lĩnh vực pháp luật không được hình thành thông qua hoạt động của cơ quan lập pháp. Hình thức pháp luật này xuất hiện trong nhà nước chiếm hữu nô lệ và áp dụng rộng rãi trong nhà nước phong kiến và hiện còn có vị trí quan trọng trong pháp luật của nhà nước tư sản, đặc biệt là trong dân luật. Tuy nhiên, hình thức này có một yếu điểm là: thiếu tính khái quát, việc áp dụng án lệ dễ tạo ra sự tùy tiện vì nó phụ thuộc vào sự giải thích và vận dụng của thẩm phán. Trên thực tế, khó có sự việc, sự kiện giống hệt nhau khi chúng diễn ra trong những thời gian khác nhau, liên quan đến các chủ thể khác nhau. Trong các nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, tiền lệ pháp cũng như tập quán pháp, về nguyên tắc không được sử dụng. Tuy nhiên, phong tục tập quán cũng như thực tiễn xét xử có ý nghĩa lớn đối với công tác ban hành pháp luật, việc tổng kết thực tiễn xét xử và chỉ đạo hướng dẫn công tác xét xử có vai trò quan trọng trong đời sống pháp luật của nước ta. 15

Pháp luật Kinh tế

c)Văn bản quy phạm pháp luật: Văn bản quy phạm pháp luật là hình thức pháp luật cơ bản và tiến bộ nhất. Đó là những văn bản, mà trong đó, có nội dung là những quy phạm pháp luật, do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục nhất định. Các quy phạm pháp luật chính là các quy tắc xử sự bắt buộc chung nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội. Các văn bản thuộc loại hình thức pháp luật này có quan hệ logic với nhau tạo thành hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, trên nguyên tắc tôn trọng tính hiệu lực tối cao của Hiến pháp và các Luật. Việc quy định cụ thể các nội dung của các văn bản tạo tiền đề cho việc áp dụng thống nhất và tránh sự lạm dụng tùy tiện của các cơ quan áp dụng pháp luật, đảm bảo pháp luật phản ánh đúng ý chí của cơ quan lập pháp. Văn bản quy phạm pháp luật là hình thức pháp luật ra đời từ rất sớm, có ngay trong nhà nước nô lệ và phong kiến. Mặc dù vậy, bên cạnh hình thức pháp luật này, ngay cả trong các nhà nước tư sản hiện đại như Anh, Mỹ... các hình thức tập quán pháp và tiền lệ pháp vẫn cùng tồn tại. Ở Việt Nam, văn bản quy phạm pháp luật là hình thức pháp luật duy nhất được áp dụng. Các văn bản quy phạm pháp luật là yếu tố quyết định trong việc hiện thực hóa đường lối, chủ trương của Đảng, đảm bảo cho sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. III. BỘ MÁY NHÀ NƯỚC 1. Khái niệm và nguyên tắc tổ chức Bộ máy nhà nước Bộ máy nhà nước là hệ thống các cơ quan từ trung ương đến địa phương được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc nhất định, thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước. Bộ máy nhà nước không phải là tập hợp đơn giản các cơ quan nhà nước, mà là một hệ thống thống nhất các cơ quan với những chức năng, thẩm quyền cụ thể và có quan hệ qua lại chặt chẽ với nhau trong thực hiện quyền lực nhà nước. Mỗi cơ quan nhà nước là một tổ chức mang quyền lực nhà nước để thực hiện các nhiệm vụ cụ thể, và có tính độc lập tương đối về tổ chức và cơ cấu. Các nhà nước khác nhau thuộc kiểu và hình thức nhà nước với chức năng nhiệm vụ trong từng thời kỳ là khác nhau. Do đó, giữa các nhà nước có nhiều đặc điểm khác nhau trong tổ chức và hoạt động của Bộ máy nhà nước. Song bao giờ cũng có ba khối cơ quan: khối cơ quan lập pháp; khối cơ quan hành pháp (cơ quan tổ chức thực hiện pháp luật); khối cơ quan tư pháp (cơ quan bảo vệ pháp luật) và cơ quan thứ tư là nguyên thủ quốc gia (cá nhân hoặc cơ quan đại diện cho quốc gia về đối nội và đối ngoại). Điểm khác nhau giữa các bộ máy nhà nước ở các quốc gia là khác nhau ở cách thức và nguyên tắc lập ra các cơ quan đó. Như chúng ta đã tìm hiểu trong mục chức năng của nhà nước, bất kỳ nhà nước nào cũng ban hành pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật để thực hiện các chức năng của mình. Tương ứng với ba hoạt động đó, quyền lực nhà nước được cấu thành từ ba quyền: quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp. ♦ Quyền lập pháp là thẩm quyền ban hành, sửa đổi, bãi bỏ các văn bản pháp luật và quy định hiệu lực thi hành của các văn bản luật đó. 16

Pháp luật Kinh tế

♦ Quyền hành pháp là thẩm quyền tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật đã ban hành và có hiệu lực. Bên cạnh đó, cơ quan nhà nước có thể ban hành các quy định nhằm chi tiết và hướng dẫn thực hiện. ♦ Quyền tư pháp là thẩm quyền giám sát việc thực hiện pháp luật của các cơ quan nhà nước, công tố các hành vi vi phạm pháp luật và xét xử để trừng phạt các hành vi vi phạm nhằm một mục đích chung là bảo vệ, ngăn ngừa những hoạt động vi phạm pháp luật, làm mất hiệu lực của pháp luật. Bộ máy nhà nước là hệ thống các cơ quan thực hiện ba bộ phận quyền lực nói trên của quyền lực nhà nước, và có nguyên tắc của nó. Mỗi một quốc gia vận dụng các nguyên tắc khác nhau trong tổ chức Bộ máy nhà nước tạo ra những đặc thù riêng trong cơ cấu tổ chức của bộ máy nhà nước của quốc gia đó. Có hai nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước hiện nay trên thế giới sau đây: - Nguyên tắc phân quyền là nguyên tắc đang được vận dụng để tổ chức bộ máy nhà nước tư sản. Tư tưởng tổ chức quyền lực theo hình thức phân quyền đã có từ lâu. Thời cổ đại, Aristôt nhà tư tưởng Hy lạp đã đề xướng thuyết phục triều đình ứng dụng. Thời cận đại có nhà tư tưởng Anh J.Locke và nhà tư tưởng Montesquieu đã tuyên truyền nguyên tắc phân quyền trong các tác phẩm của mình. Tiếp đó, thuyết phân quyền được hoàn chỉnh trong thời kỳ giai cấp tư sản thắng thế trong cuộc cách mạng đấu tranh lật đổ chế độ phong kiến quân chủ chuyên quyền, chế độ mọi quyền lực tập trung hết vào tay nhà vua, được chuyển giao theo nguyên tắc thừa kế. Theo nguyên tắc phân quyền (tam quyền phân lập) thì quyền lực phải được chia thành: quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp. Ba loại quyền này phải độc lập, chế ước lẫn nhau. Trong đó quyền lập pháp thuộc về Nghị viện (Quốc hội); quyền hành pháp thuộc về Chính phủ; còn quyền tư pháp thuộc về cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát (Viện công tố). Trên quan điểm lịch sử, nguyên tắc phân quyền là một tiến bộ so với nguyên tắc tập quyền trong tổ chức bộ máy nhà nước phong kiến chuyên chế. Nhờ đó hình thành Thiết chế dân chủ tư sản. Các học giả tư sản coi đây là nguyên tắc tuyệt vời, là đỉnh cao của tổ chức bộ máy nhà nước. Sự thật, về bản chất, C. Mác nhận định đó chỉ là hình thức. Nhà nước đại diện cho một giai cấp nhất định, do đó quyền lực nhà nước thực chất là quyền lực của giai cấp thống trị xã hội, sự phân quyền chỉ là tương đối. Các Nhà nước tư sản tuyên bố Nhà nước của họ được tổ chức theo nguyên tắc phân quyền tuyệt đối. Quyền lập pháp, theo họ, là quyền thuộc về Nghị viện, do nhân dân bầu ra, nhưng thực tế cũng không đủ để chế ước cơ quan hành pháp. Sự lấn át cơ quan hành pháp đối với hoạt động của cơ quan lập pháp diễn ra phổ biến ở Mỹ, Pháp, Nhật... Cơ quan lập pháp, hành pháp hay tư pháp trong bộ máy nhà nước tư sản cũng đều phục vụ lợi ích của giai cấp tư sản, giai cấp thống trị xã hội về kinh tế, và do đó, thống trị mọi lĩnh vực khác của xã hội. - Nguyên tắc tập quyền là nguyên tắc có từ trong tổ chức Bộ máy nhà nước phong kiến chuyên chế. Ở đây quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp không có sự 17

Pháp luật Kinh tế

phân chia. Mọi quyền hành tập trung trong một tổ chức duy nhất, thậm chí vào một người (vua, thiên tử), biến Nhà nước phong kiến thành một loại Nhà nước độc tài chuyên chế. Trong xã hội hiện đại, nguyên tắc tập quyền được áp dụng để tổ chức bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa. Với quan điểm cho rằng quyền lực gắn với một giai cấp nhất định - giai cấp thống trị xã hội, và do đó, sự phân chia cũng chỉ là hình thức. Một khi quyền lực chính trị, quyền lực nhân dân có sự thống nhất thì sự phân chia quyền lực là không cần thiết. Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu, giai cấp vô sản, nhân dân lao động có quyền làm chủ về kinh tế, và do đó, có quyền lực kinh tế thì có quyền lực chính trị và sự thống nhất quyền lực chính trị và quyền lực nhân dân là tất yếu. Quyền lực đó được tập trung vào cơ quan quyền lực cao nhất do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân - đó là Quốc hội. Mọi Cơ quan nhà nước khác đều do Quốc hội thành lập, giao nhiệm vụ và giám sát. Nhà nước xã hội chủ nghĩa tổ chức theo nguyên tắc tập quyền tiến bộ. Trên thực tế, Bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa cũng hình thành các hệ thống cơ quan nhà nước tương tự như có sự phân quyền, Quốc hội thực hiện chức năng lập pháp; Chính phủ thực hiện chức năng hành pháp; Tòa án, Viện kiểm sát thực hiện chức năng tư pháp. Đây không phải là phân quyền mà chỉ là phân nhiệm. Là Nhà nước xã hội chủ nghĩa, Bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tổ chức theo nguyên tắc tập quyền tiến bộ, bảo đam “tất cả quyền lực thuộc về nhân dân”. Để khắc phục khiếm khuyết của nguyên tắc này là dễ xảy ra hiện tượng độc tài, chuyên quyền, trong khi vận dụng phải phát huy dân chủ đảm bảo một cách đầy đủ hơn quyền lực của nhân dân, nhà nước chỉ vận dụng những nhân tố hợp lý của nguyên tắc phân quyền trong việc phân nhiệm giữa các hệ thống cơ quan nhà nước. Tuy nhiên sự vận dụng phải bảo đảm cho Bộ máy nhà nước hoạt động không chệch hướng của sự tập quyền và tôn trọng quyền giám sát tối cao của Quốc hội. 2. Bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là hệ thống các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc thống nhất, tạo thành một cơ chế đồng bộ thực hiện chức năng và nhiệm vụ của nhà nước, theo nguyên tắc phân công, phân nhiệm, quyền lực tập trung thống nhất ở Quốc hội, dưới sự chỉ đạo thống nhất của Đảng cộng sản Việt Nam. 2.1. Những nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Việt Nam Bộ máy nhà nướcViệt Nam được tổ chức theo nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa với những nội dung cụ thể sau: +Nguyên tắc Bộ máy nhà nước được tổ chức và hoạt động đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước: Đảng định ra đường lối, chủ trương về những vấn đề quan trọng liên quan đến tổ chức bộ máy nhà nước, thông qua nhà nước, những chủ trương, đường lối của Đảng được thế chế hóa thành chính sách và pháp luật nhằm đảm bảo và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. 18

Pháp luật Kinh tế

+Nguyên tắc quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện quyền lực Nhà nước: Quyền lực nhà nước bao gồm quyền lập pháp, quyền hành pháp, và quyền tư pháp được phân công cho các cơ quan tương ứng là Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân, nhưng quyền lực Nhà nước vẫn thống nhất nằm trong cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân (Quốc hội), không có sự khống chế lẫn nhau giữa ba bộ phận quyền lực trên và các cơ quan được trao quyền đó. +Nguyên tắc đảm bảo sự tham gia đông đảo của nhân dân vào quản lý nhà nước: Nguyên tắc này tạo ra khả năng phát huy sức lực, trí tuệ của nhân dân vào công việc của nhà nước, là phương pháp hiệu quả ngăn chặn tệ quan liêu, của quyền và tham nhũng của các cơ quan nhà nước. Có nhiều hình thức để thu hút nhân dân tham gia vào quản lý nhà nước như bầu cử trực tiếp, thảo luận, đóng góp ý kiến, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước hay tham gia vào các đoàn thể xã hội... +Nguyên tắc tập trung dân chủ: Trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, phải kết hợp được sự chỉ đạo, điều hành của các cơ quan trung ương, cơ quan cấp trên với sự năng động, tự chủ của địa phương và cơ quan cấp dưới. Đây là vấn đề hết sức quan trọng trong thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ đặt ra trước nhà nước. +Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa: Việc tổ chức và hoạt động của Bộ máy nhà nước phải được tiến hành theo đúng quy định của pháp luật; mọi nhân viên nhà nước, cơ quan nhà nước phải triệt để tôn trọng pháp luật khi thi hành nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Thực hiện tốt nguyên tắc này là cơ sở cho bộ máy nhà nước được hoạt động nhịp nhàng, đồng bộ, phát huy được hiệu lực của quản lý nhà nước, đảm bảo công bằng xã hội. 2.2. Tổ chức bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là hệ thống các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc thống nhất, tạo thành một cơ chế đồng bộ thực hiện chức năng và nhiệm vụ của nhà nước, theo nguyên tắc phân công, phân nhiệm, quyền lực tập trung thống nhất ở Quốc hội, dưới sự chỉ đạo thống nhất của Đảng cộng sản Việt Nam. Theo Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện hành, Bộ máy nhà nước ta gồm các cơ quan sau đây: ♦ Hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước bao gồm: Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. ♦ Nguyên thủ quốc gia: Chủ tịch nước. ♦ Hệ thống cơ quan quản lý hành chính nhà nước gồm Chính phủ, các Bộ ngành, Ủy ban nhân dân các cấp. ♦ Hệ thống cơ quan tư pháp gồm: Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân các cấp, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân các cấp ở địa phương. 2.2.1. Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp a) Quốc hội 19

Pháp luật Kinh tế

Điều 83-Hiến pháp 1992 quy định "Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam". Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, thể hiện trước hết Quốc hội là cơ quan nhà nước duy nhất ở nước ta do cử tri trong cả nước trực tiếp bầu ra thông qua bầu cử, theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp, bỏ phiếu kín. Các Đại biểu quốc hội được bầu ra, là kết quả lựa chọn của nhân dân. Quốc hội là cơ quan nhà nước tập trung trí tuệ toàn dân, là biểu hiện của khối đại đoàn kết toàn dân. Trong cơ cấu của Quốc hội bao giờ cũng có Đại biểu đại diện cho các tầng lớp nhân dân, cho các vùng lãnh thổ như: đại biểu là người dân tộc thiểu số, đại biểu đại diện cho các đoàn thể, tôn giáo, đại diện cho các ngành... Quốc hội là cơ quan tối cao có trọng trách đại diện cho ý chí nguyện vọng của nhân dân, quyết định những vấn đề thuộc chủ quyền quốc gia, những vấn đề trọng đại của đất nước. Quốc hội là cơ quan cao nhất của quyền lực nhà nước. Xuất phát từ bản chất nhà nước của nhân dân, là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, Quốc hội là cơ quan cao nhất của quyền lực nhà nước. Quốc hội là cơ quan cao nhất có quyền biến ý chí của nhân dân thành ý chí nhà nước, thành các quy định của Hiến pháp, Luật. Quốc hội có nhiệm vụ quyền hạn lập hiến (ban hành Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp); lập pháp (ban hành luật và sửa đổi luật); quyết định chương trình xây dựng pháp luật. Đồng thời Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ nhà nước và công dân. Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm các chức vụ cao nhất của nhà nước... Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của nhà nước, thông qua xem xét báo cáo hoạt động định kỳ của các cơ quan nhà nước và hoạt động của bản thân đại biểu Quốc hội. Nhiệm kỳ của quốc hội là 5 năm. Cơ cấu của Quốc hội là một trong những yếu tố đảm bảm hiệu quả hoạt động của Quốc hội. Cơ cấu của Quốc hội bao gồm: Kỳ họp Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội và Đại biểu quốc hội. Ủy ban thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội do Quốc hội bầu ra, chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước Quốc hội. Ủy ban thường vụ Quốc hội gồm Chủ tịch Quốc hội, các phó Chủ tịch Quốc hội và các Ủy viên. Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban thường vụ Quốc hội được quy định trong Hiến pháp và Luật tổ chức Quốc hội. Chủ tịch Quốc hội có vị trí đặc biệt trong tổ chức Quốc hội, có nhiệm vụ chủ trì và điều hành các hoạt động của Quốc hội, phối hợp hoạt động giữa các cơ quan của Quốc hội. Chỉ đạo và thay mặt Quốc hội trong công tác đối ngoại của. Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội do Quốc hội bầu ra, gồm Chủ tịch, các phó Chủ tịch và các Ủy viên. Hội đồng dân tộc có thẩm quyền nghiên cứu và kiến nghị với Quốc hội những vấn đề dân tộc, giám sát việc thi hành chính sách dân tộc, các chương trình kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội miền núi và và vùng có 20

Pháp luật Kinh tế

đồng bào các dân tộc thiểu số... Các Ủy ban của Quốc hội có thẩm quyền nghiên cứu, thẩm tra, kiến nghị với Quốc hội những vấn đề chuyên môn của mỗi Ủy ban như luật pháp, ngân sách, đối ngoại... Các thành viên của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội phải là Đại biểu Quốc hội và không đồng thời là thành viên Chính phủ. Đại biểu Quốc hội là những người được cử tri bầu chọn, đại diện cho nhân dân của đơn vị bầu cử bầu ra mình và đại diện cho nhân dân cả nước ở cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nước. Đại biểu Quốc hội gồm đại biểu chuyên trách và đại biểu kiêm nhiệm. Nhiệm vụ, quyền hạn của Đại biểu Quốc hội được quy định trong Hiến pháp và Luật tổ chức Quốc hội. b) Hội đồng nhân dân các cấp Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. Hội đồng nhân dân được tổ chức thành 3 cấp ở địa phương: - Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương - Hội đồng nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh - Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn Tính đại diện của Hội đồng nhân dân thể hiện: ở địa phương, Hội đồng nhân dân là cơ quan do cử tri địa phương bầu ra theo nguyên tắc phổ thông bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Đại biểu Hội đồng nhân dân là người đại diện cho nhân địa phương để thực hiện quyền lực nhân dân. Tính quyền lực của Hội đồng nhân dân thể hiện ở chỗ: Hội đồng nhân dân là cơ quan nhà nước ở địa phương được nhân dân giao quyền thực hiện quyền lực Nhà nước, quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương, biến ý chí của nhân dân địa phương thành pháp luật mang tính bắt buộc đối với dân cư trong phạm vi địa phương đó. Nhiệm vụ quyền hạn của Hội đồng nhân dân bao gồm ba nội dung chủ yếu: (1) Quyết định những chính sách và các vấn đề quan trọng, các biện pháp để xây dựng và phát triển địa phương (2) Đảm bảo thực hiện đúng các quy định của các cơ quan nhà nước cấp trên (3) Giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước cùng cấp, giám sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan nhà nước, các tổ chức khác và của công dân tại địa phương. 2.2.2. Chủ tịch nước Chủ tịch nước là người đứng đầu nhà nước, thay mặt cho nhà nước Việt Nam về đối nội và đối ngoại. Chủ tịch nước do Quốc hội bầu ra trong số Đại biểu Quốc hội và do Quốc hội miễn nhiệm và bãi nhiệm. Chủ tịch nước là một cơ quan nhà nước có nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Hiến pháp. 2.2.3. Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp a) Chính phủ Hiến pháp Việt Nam quy định Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, có chức năng tổ chức thi hành Hiến pháp, Luật, Nghị quyết của Quốc hội, Pháp lệnh, 21

Pháp luật Kinh tế

Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội... chịu trách nhiệm và báo cáo hoạt động của mình trước Quốc hội. Đồng thời, Chính phủ là cơ quan đứng đầu hệ thống cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan thực hiện chức năng hành pháp, thống nhất điều hành và thực hiện quản lý hành chính nhà nước đối với mọi hoạt động trong xã hội. Cơ cấu của Chính phủ bao gồm: Thủ tướng (đứng đầu Chính phủ), các phó Thủ tướng, các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ và một số thành viên khác. Các Bộ, các cơ quan ngang Bộ là các cơ quan quản lý hành chính theo chuyên ngành trên phạm vi toàn quốc. Bên cạnh đó, Chính phủ còn thành lập thêm các cơ quan thuộc Chính phủ để thực hiện quản lý hành chính ở một số ngành, lĩnh vực quan trọng khác. Hình thức hoạt động của Chính phủ được kết hợp giữa nguyên tắc thủ trưởng và nguyên tắc tập thể Chính phủ. Hoạt động tập thể Chính phủ là hình thức hoạt động chủ đạo được áp dụng trong các trường hợp phức tạp và quan trọng quy định tại Điều 19 Luật tổ chức Chính phủ. Chế độ thủ trưởng là hình thức Thủ tướng, người đứng đầu Chính phủ, lãnh đạo điều hành, và chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của Chính phủ. Thủ tướng có quyền hạn được quy định trong Hiến pháp b) Ủy ban nhân dân các cấp Ủy ban nhân dân do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra, là cơ quan chấp hành của hội đồng nhân dân, cơ quan quản lý hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp và luật, các văn bản của nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân. Ủy ban nhân dân là mắt xích rất quan trọng trong việc phát huy hiệu lực của chính quyền địa phương, đảm bảo cho hoạt động hành chính nhà nước thông suốt từ trung ương đến cơ sở. Ủy ban nhân dân thực hiện quản lý hành chính nhà nước theo lãnh thổ tất cả các mặt của đời sống xã hội tại mỗi địa phương, kết hợp với quản lý ngành của các cơ quan trung ương tạo nên sự thông suốt từ trung ương đến địa phương và thống nhất giữa các địa phương trong toàn quốc Về cơ cấu: Ủy ban nhân dân bao gồm: Chủ tịch, các phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân và các Ủy viên. Số lượng thành viên của Ủy ban nhân dân được pháp luật quy định: Cấp tỉnh 9 đến 10 thành viên; cấp huyện từ 7 đến 9; cấp xã từ 5 đến 7 thành viên. Thành viên Ủy ban nhân dân do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra và được cơ quan cấp trên phê chuẩn. Chế độ làm việc của Ủy ban nhân dân bao gồm chế độ tập thể các thành viên và chế độ Chủ tịch làm thủ trưởng. Ủy ban nhân dân phải chịu trách nhiệm về hiệu quả hoạt động quản lý và chấp hành trước cơ quan nhà nước cấp trên và Hội đồng nhân dân cùng cấp. 2.2.4. Tòa án nhân dân và Viện Kiểm sát nhân dân. Trong Bộ máy nhà nước, Tòa án nhân dân và Viện Kiểm sát nhân dân có chức năng chung là cơ quan bảo vệ pháp luật của nhà nước (tức cơ quan thực hiện quyền tư pháp), là cơ quan bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước và của nhân dân. Tuy 22

Pháp luật Kinh tế

nhiên, mỗi cơ quan thực hiện chức năng bảo vệ pháp luật, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa bằng các hoạt động đặc thù riêng của mình. a) Tòa án nhân dân Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có nhiệm vụ xét xử các vụ án hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân gia đình,... và giải quyết các công việc khác theo quy định của pháp luật. Về cơ cấu, cơ quan Tòa án gồm có: +Tòa án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất, thực hiện chức năng giám đốc xét xử và hướng dẫn công tác xét xử.... +Tòa án nhân dân cấp tỉnh, và Tòa án nhân dân cấp huyện, +Tòa án Quân sự gồm: Tòa quân sự trung ương, Tòa quân sự quân khu và tương đương, Tòa quân sự khu vực. Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự được tổ chức thành các phân tòa như Tòa dân sự, Tòa kinh tế, Tòa hình sự, Tòa lao động, Tòa hành chính... thực hiện chức năng xét xử theo chuyên ngành. Về tổ chức, Tòa án có Chánh án, phó Chánh án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký tòa án và các phòng chức năng khác. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao do Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác xét xử trước Quốc hội. Các Chánh án khác, phó Chánh án, Thẩm phán do Chủ tịch nước bổ nhiệm và cách chức. Hội thẩm nhân dân do cử hoặc do bầu. Tòa án chịu sự giám sát của Hội đồng nhân dân cùng cấp. Việc xét xử các vụ án của Tòa án tuân theo nguyên tắc xét xử tập thể, công khai, thẩm phán và hội thâm nhân dân độc lập và ngang nhau trong khi ra bản án, quyết định. b) Viện kiểm sát nhân dân Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan nhà nước; thực hành quyền công tố theo quy định của pháp luật. Quyền công tố là quyền của Nhà nước, quyền nhân danh nhà nước yêu cầu Tòa án có thẩm quyền đưa các vụ án ra xét xử. Nó có mối quan hệ chặt chẽ với chức năng giám sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát. Về cơ cấu: Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức thành Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân ở cấp tỉnh và cấp huyện; Viện kiểm sát Quân sự Trung ương, và Viện kiểm sát quân sự quân khu, khu vực. Tổ chức, mỗi Viện Kiểm sát có Viện trưởng, các phó Viện trưởng, các Kiểm sát viên. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm; chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội. Những người khác do Chủ tịch nước bổ nhiệm, bãi nhiệm. Viện kiểm sát làm việc theo chế độ thủ trưởng dưới sự lãnh đạo của Viện trưởng. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân ở địa phương chịu sự lãnh đạo và chịu trách nhiệm trước Viện trưởng Viện Kiểm sát cấp trên và chịu sự giám sát của Hội đồng nhân dân cùng cấp. 23

Pháp luật Kinh tế

CHƯƠNG II CƠ CHẾ ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT
Nhà nước ban hành pháp luật để quản lý xã hội theo một định hướng và một trật tự nhất định, Nhà nước phải tác động đến mọi lĩnh vực xã hội, mọi cá nhân, tổ chức. Sự tác động của Nhà nước đến các quan hệ xã hội phải theo một cơ chế thống nhất, hiệu quả được gọi là cơ chế điều chỉnh các quan hệ xã hội bằng pháp luật. Nội dung của vấn đề này chính là việc nhà nước ban hành pháp luật, tổ chức thực hiện và bảo vệ hiệu lực của pháp luật. Trong phạm vi nghiên cứu dưới đây, chúng ta tìm hiểu các vấn đề trong cơ chế điều chỉnh pháp luật của Nhà nước đối với xã hội. I. QUY PHẠM PHÁP LUẬT 1. Khái niệm quy phạm pháp luật Trong đời sống xã hội, giữa con người với nhau có mối quan hệ qua lại vô cùng phức tạp, rất đa dạng. Để xã hội ổn định trong vòng trật tự và phát triển, tránh sự diệt vong, đòi hỏi mỗi thành viên xã hội phải tự kiềm chế mình để tiến hành các hành vi phù hợp với những quy tắc xã hội. Những quy tắc xã hội này được gọi là các quy phạm xã hội. Từ “quy phạm”, có gốc tiếng Hán quy là thước, phạm là khuôn; tiếng La tinh là quy tắc, mệnh lệnh xác định. Quy phạm xã hội là quy tắc (thước đo, chuẩn mực) chung trong các quan hệ xã hội. Khi con người có quan hệ với nhau thì phải dựa vào quy tắc chung đó để xem xét hành vi xử sự của mình được làm gì, phải làm gì và không được làm gì. Nếu các thành viên trong xã hội không xử sự như thế thì xã hội sẽ mất ổn định, dẫn tới nguy cơ diệt vong. Quy phạm xã hội có nhiều loại, quy phạm đạo đức, quy phạm phong tục tập quán, quy phạm tôn giáo, quy phạm của các tổ chức xã hội... và quy phạm pháp luật. Quy phạm đạo đức là loại quy phạm không được quy định thành văn một cách chính thống mà chúng được hình thành tự nhiên dưới hình thức các quan niệm, niềm tin được kiểm nghiệm, sàng lọc trong thực tế, trở thành những quy tắc chung, có hiệu lực tâm lý cao, biến thành ý thức tự giác và được thi hành trong cộng đồng hoặc một bộ phận nào đó của cộng đồng... Phong tục tập quán cũng có giá trị như những quy phạm, là chuẩn mực về xử sự hình thành trong đời sống xã hội, được lưu truyền lặp đi, lặp lại từ thế hệ này qua thế hệ khác. Giữa quy phạm đạo đức và phong tục tập quán có điểm tương đồng về phương thức hình thành và biện pháp thực hiện, nhưng khác nhau ở mức độ can thiệp. Phong tục tập quán gắn liền với thói quen, hành vi cụ thể trở thành công thức máy móc. Quy phạm đạo đức thiên về quan niệm, về ý thức. Vì vậy, một chuẩn mực đạo đức nhưng có nhiều thước đo không nhất quán, thậm chí trái ngược nhau. Cộng đồng này quan niệm một hành vi xử sự như thế này là tốt, là nhân đạo, nhưng với cộng đồng khác lại quan niệm đó là xấu, là vô nhân đạo. Bên cạnh đó quy phạm xã hội nói chung còn có nhiều loại quy phạm khác đều có ý nghĩa để điều chỉnh hành vi ứng xử của con người như quy phạm tôn giáo, quy phạm pháp luật, quy phạm của các tổ chức xã hội..., mỗi loại quy phạm có những đặc 24

Pháp luật Kinh tế

điểm riêng. Chúng ta có thể khái quát: Quy phạm xã hội là quy tắc xử sự có tính bắt buộc, thể hiện ý chí của con người, có tác dụng điều chỉnh các quan hệ xã hội, được hình thành trên cơ sở phản ánh các quy luật vận động khách quan của xã hội. Những quy phạm xã hội các loại đều có đặc điểm chung, đó là: ♦ Thứ nhất, đều là khuôn mẫu xử sự, là thước đo hành vi của con người; ♦ Thứ hai, được hình thành trên cơ sở nhận thức các quy luật vận động khách quan của xã hội. Mỗi quy phạm xã hội là một quy tắc xử sự phù hợp với mục đích cá nhân, giai cấp, nhóm xã hội hay cộng đồng xã hội nói chung; ♦ Thứ ba, quy phạm xã hội có chức năng điều chỉnh hành vi, có cấu trúc thông tin xác định. Thông thường cấu trúc của quy phạm xã hội bao gồm ba bộ phận: 1)bộ phận quy định về điều kiện của hành vi; 2)bộ phận quy định về trật tự của hành vi; 3)bộ phận quy định về hậu quả của sự vi phạm quy tắc. Trong tất cả các loại quy phạm xã hội, quy phạm pháp luật, được đảm bảo bằng sự cưỡng chế nhà nước, có vai trò quan trọng và có hiệu lực nhất trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội, duy trì ổn định, trật tự xã hội, trong việc tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước, cải tạo xã hội cũ, và xây dựng xã hội mới. Quy phạm pháp luật trước hết là một loại của quy phạm xã hội. Giống như các quy phạm đạo đức, quy phạm của các tổ chức xã hội..., quy phạm pháp luật là các chuẩn mực quy tắc xử sự mang tính chất chung điều chỉnh hành vi của con người và được sử dụng nhiều lần trong cuộc sống, là tiêu chuẩn để đánh giá hành vi của con người trong các quan hệ xã hội. Điểm khác của quy phạm pháp luật là thông qua quy phạm pháp luật chúng ta biết được hoạt động nào, hành vi nào của con người mang tính chất pháp lý, hành vi nào hợp pháp, hành vi nào vi phạm pháp luật. Quy phạm pháp luật luôn gắn liền với Nhà nước và chỉ do nhà nước đặt ra hoặc phê chuẩn, hoặc do một tổ chức xã hội được nhà nước ủy quyền ban hành, và được đam bảo thi hành bằng cưỡng chế nhà nước. Nhà nước thiết lập ra một hệ thống các cơ quan chuyên môn (bộ máy nhà nước) để đảm bảo cho pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh và triệt để. Bất kỳ một chủ thể nào vi phạm các quy định của quy phạm pháp luật, xâm phạm đến lợi ích của các cá nhân, tổ chức khác, xâm phạm đến lợi ích, trật tự pháp lý của nhà nước đều phải chịu các hậu quả pháp lý bất lợi. Nội dung của quy phạm pháp luật thể hiện ở sự cho phép, cấm đoán; hoặc bắt buộc. Đó là các quy tắc xử sự trong đó chỉ ra các quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên tham gia quan hệ pháp luật mà nó điều chỉnh. Quy phạm pháp luật vừa mang tính giai cấp, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, vừa mang tính xã hội rộng lớn duy trì quan hệ, đời sống cộng đồng nói chung. Đặc điểm này mang lại tính bền vững cho pháp luật, là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội. Trong quy phạm pháp luật xã hội chủ nghĩa thì sự phân biệt giữa tính xã hội và tính giai cấp là mờ nhạt, bởi lẽ giai cấp thống trị trong xã hội là giai cấp đa số và đông đảo có chung một mục tiêu, một lợi ích. Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung được áp dụng nhiều lần trong cuộc sống, quy phạm pháp luật được đặt ra không phải để áp dụng 25

Pháp luật Kinh tế

cho một chủ thể cụ thể nào, mà là bắt buộc đối với tất cả mọi người trong xã hội, nằm trong hoàn cảnh, điều kiện mà quy phạm pháp luật đó quy định. Đồng thời, quy phạm pháp luật được áp dụng nhiều lần trong cuộc sống cho tất cả các quan hệ xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của nó, cho tới khi nó bị hủy bỏ hoặc thay thế bằng một quy phạm pháp luật khác. Quy phạm pháp luật được thể hiện dưới những hình thức xác định, đó là thuộc tính vốn có bắt buộc của pháp luật. Các quy phạm xã hội khác có thể được thể hiện dưới những hình thức tồn tại cụ thể hoặc không. Nhưng đối với quy phạm pháp luật thì bao giờ cũng được thể hiện dưới những hình thức nhất định. Đặc điểm này là cơ sở để xác định nguồn của quy phạm pháp luật, thứ bậc hiệu lực của quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật nói chung. Đồng thời đó là yếu tố có vai trò quan trọng đối với việc hiểu, giải thích và áp dụng thống nhất các quy định của pháp luật. Quy phạm pháp luật của nhà nước ta luôn là các quy phạm pháp luật thành văn, được thể hiện trong văn bản quy phạm pháp luật. Yêu cầu của các quy phạm pháp luật nói chung là phải chính xác, chặt chẽ, rõ ràng và phải luôn được hiểu và áp dụng thống nhất. Như vậy, Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung, do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị để điều chỉnh các quan hệ xã hội, và được đảm bảo thực hiện bằng cưỡng chế nhà nước. 2. Cấu trúc của quy phạm pháp luật Cơ cấu của quy phạm pháp luật là các bộ phận hợp thành quy phạm pháp luật. Quy phạm pháp luật là đơn vị cơ bản của pháp luật, nhưng trong nó còn có những bộ phận nhỏ hợp thành. Trong các tác phẩm pháp lý còn có những ý kiến khác nhau về cơ cấu của quy phạm pháp luật. Đa số ý kiến cho rằng quy phạm pháp luật được tạo thành bởi ba bộ phận: Giả định, Quy định, Chế tài a) Giả định là bộ phận của quy phạm pháp luật nêu lên quan hệ xã hội mà quy phạm điều chỉnh, xác định rõ tình huống, trường hợp, điều kiện, hoàn cảnh có thể xảy ra trong cuộc sống và cá nhân, hay tổ chức nào vào hoàn cảnh, điều kiện đó phải chịu sự điều chỉnh của quy phạm pháp luật. Giả định thường quy định về thời gian, địa điểm, các chủ thể, các hoàn cảnh cụ thể mà quy phạm pháp luật điều chỉnh. Ví dụ: Khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự 1999 quy định "Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác thì bị phạt tiền từ năm triệu đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm", quy phạm này có bộ phận giả định là "Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác". Để áp dụng các quy phạm pháp luật một cách chính xác, nhất quán, phần giả định phải được mô tả một cách rõ ràng. Những hoàn cảnh, điều kiện nêu ra phải sát với thực tế cuộc sống. Tính xác định là tiêu chuẩn hàng đầu của một giả định. Điều 26

Pháp luật Kinh tế

kiện, hoàn cảnh được dự liệu có thể giản đơn hoặc có thể phức tạp. Chẳng hạn, Điều 80-Hiến pháp 1992 quy định "Công dân có nghĩa vụ đóng thuế và lao động công ích theo quy định của pháp luật" thì phần giả định là Công dân và chỉ ra chủ thể chịu sự điều chỉnh của quy phạm là tất cả mọi cá nhân công dân Việt Nam. Khác với Điều 80 -Hiến pháp nêu trên, Khoản 1 Điều 102 Bộ luật hình sự 1999 "Người nào thấy người khác trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, tuy có điều kiện cứu giúp mà không cứu giúp dẫn đến hậu quả người đó chết, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm" lại có phần giả định rất phức tạp, đó là "Người nào thấy người khác trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, tuy có điều kiện cứu giúp mà không cứu giúp dẫn đến hậu quả người đó chết," b) Quy định là bộ phận của quy phạm pháp luật nêu rõ cách xử sự của chủ thể pháp luật (cá nhân hay tổ chức) ở vào hoàn cảnh điều kiện đã nêu trong phần giả định, gồm sự cho phép hay bắt buộc phải thực hiện. Bộ phận quy định trả lời câu hỏi Phải làm gì? Không được làm gì? và làm như thế nào? Trong quy định, ý chí và lợi ích của nhà nước, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể được xác định rõ ràng để mọi người khi có quan hệ với nhau phải dựa vào đó xem xét hành vi của mình, được làm gì, phải làm gì và không được làm gì. Bởi vậy, bộ phận quy định phải được thể hiện một cách chính xác, trực tiếp yêu cầu của quy phạm, thể hiện bản chất, chức năng và vai trò xã hội của quy phạm pháp luật. Nắm vững bộ phận quy định là điều kiện quan trọng để thực hiện đúng yêu cầu của quy phạm pháp luật. Căn cứ vào tính chất, phương thức tác động lên các quan hệ xã hội, quy phạm pháp luật có các cách quy định khác nhau. Phần quy định của quy phạm pháp luật được phân biệt thành các loại: - Quy định mệnh lệnh, Nhà nước quy định một cách dứt khoát những điều cấm đoán, không được làm hoặc bắt buộc phải làm. Ví dụ: Công dân "có nghĩa vụ đóng thuế và lao động công ích theo quy định của pháp luật". Hoặc quy định của Điều 51 Luật tổ chức Quốc hội quy định rằng: Không có sự đồng ý của Quốc hội và trong thời gian Quốc hội không họp, không có sự đồng ý của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì "không được bắt giam, truy tố đại biểu Quốc hội và không được khám xét nơi ở và nơi làm việc của đại biểu Quốc hội". - Quy định tùy nghi, trong quy định này nhà nước không nêu lên một cách dứt khoát một cách xử sự nhất định nào mà nêu lên một số cách xử sự để hướng các chủ thể pháp luật lựa chọn hoặc thỏa thuận với nhau. Nếu họ không thỏa thuận hoặc thỏa thuận trái với sự hướng dẫn, thì cơ quan có thẩm quyền sẽ quyết định. Loại quy định này thường thấy trong luật dân sự, kinh tế, thương mại,... Chẳng hạn "Việc kết hôn phải do Ủy ban nhân dân cơ sở nơi thường trú của bên nam hoặc bên nữ công nhận và ghi vào sổ đăng ký kết hôn theo thủ tục do Nhà nước quy định. Mọi nghi thức kết hôn khác đều không có giá trị pháp lý"... - Quy định giao quyền, trong loại này, Nhà nước quyết định giao quyền cho một cơ quan, tổ chức hay một cá nhân được xử lý hoặc hưởng quyền lợi. Ví dụ Điều 2 27

Pháp luật Kinh tế

Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính quy định: “Chính phủ quy định hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước; quy định chế độ áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục, đưa vào cơ sở chữa bệnh, quản chế hành chính.” c) Chế tài là bộ phận của quy phạm pháp luật nêu lên những biện pháp tác động mà nhà nước dự kiến sẽ áp dụng đối với chủ thể pháp luật đã không thực hiện theo đúng quy tắc xử sự nêu ở bộ phận quy định của quy phạm pháp luật. Chế tài là hậu quả bất lợi đối với chủ thể vi phạm pháp luật là một trong những phương tiện để đảm bảo thực hiện của quy phạm pháp luật trên thực tế. Tùy theo tiêu chí phân loại, chế tài được phân chia thành nhiều loại. - Căn cứ vào tính chất của những biện pháp mà nhà nước tác động tới các chủ thể vi phạm pháp luật, có thể phân biệt chế tài thành các loại: + Chế tài hình sự là loại chế tài nghiêm khắc nhất, nhằm trừng trị những người có hành vi vi phạm quy định của quy phạm luật hình sự, bị coi là tội phạm. + Chế tài hành chính, áp dụng đối với các chủ thể có hành vi vi phạm quy định của quy phạm luật hành chính. + Chế tài kỷ luật, áp dụng đối với những người có hành vi vi phạm nội quy, quy chế của cơ quan, trường học hay tập thể lao động... + Chế tài dân sự, áp dụng đối với các hành vi vi phạm các quy định của quy phạm pháp luật dân sự. - Căn cứ theo mức độ xác định của chế tài, phân biệt chế tài thành các loại: + Chế tài xác định, là những biện pháp cố định của sự tác động. Loại chế tài này rất phổ biến, nó sẽ hạn chế được sự tùy tiện trong việc áp dụng chế tài của cơ quan bảo vệ pháp luật. + Chế tài xác định tương đối, là biện pháp tác động được hạn chế bởi các giới hạn trên và dưới. Loại chế tài này cho phép cơ quan bảo vệ pháp luật khi áp dụng được tính toán cho phù hợp với mức độ vi phạm để xác định một mức cụ thể. + Chế tài lựa chọn là loại chế tài cho phép cơ quan bảo vệ pháp luật được lựa chọn một trong số biện pháp tác động được quy định trong nội dung của chế tài. 3. Phương pháp diễn đạt quy phạm pháp luật thành điều luật trong văn bản quy phạm pháp luật Quy phạm pháp luật được thể hiện thành các điều luật trong các văn bản quy phạm pháp luật, quy phạm pháp luật là nội dung, còn điều luật là hình thức biểu hiện của các quy phạm pháp luật. Trong nhiều trường hợp quy phạm pháp luật trùng với các điều luật. Nhưng cũng không ít trường hợp, trong một điều luật của văn bản, bao gồm một số quy phạm pháp luật khác nhau cùng điều chỉnh các quan hệ xã hội trong một lĩnh vực nhất định. Có ba phương pháp diễn đạt quy phạm pháp luật thành các điều luật trong các văn bản quy phạm pháp luật: phương pháp diễn đạt trực tiếp; phương pháp diễn đạt tham khảo; phương pháp diễn đạt theo mẫu. 28

Pháp luật Kinh tế

Phương pháp diễn đạt trực tiếp, theo phương pháp này, trong một điều luật trình bày (diễn đạt) một quy phạm pháp luật trọn vẹn, có đủ các yếu tố: giả định, quy định, chế tài. Phương pháp này có ưu điểm là dễ hiểu, dễ vận dụng, phù hợp với trình độ dân trí chưa cao. Nhưng có nhược điểm là thường lặp đi lặp lại nhiều lần một nội dung nào đó. Phương pháp diễn đạt tham khảo, theo phương pháp này, tại một điều luật, chỉ trình bày một hoặc hai bộ phận của quy phạm pháp luật, phần còn lại phải tham khảo ở một điều luật khác. Ưu điểm của phương pháp này là khắc phục được nhược điểm của phương pháp trên, khắc phục được sự trùng lặp. Nhưng nhược điểm là khó vận dụng, đòi hỏi trình độ dân trí cao. Phương pháp diễn đạt theo bản mẫu, là phương pháp diễn đạt ở một điều luật chỉ trình bày một vài bộ phận của quy phạm như ở phương pháp tham khảo, phần còn lại không giới thiệu ở một điều luật cụ thể nào, mà chỉ đề ra một phương hướng chung để tham khảo ở một luật nào đó đang hiện hành (tham khảo tại một văn bản quy phạm pháp luật khác). Qua ba phương pháp diễn đạt trên, phương pháp nào là tốt nhất? Mỗi phương pháp đều có những ưu điểm, nhược điểm của nó. Tùy theo tính chất của quan hệ xã hội do quy phạm pháp luật điều chỉnh, tùy theo trình độ dân trí của dân cư mà các nhà làm luật chọn phương pháp thích hợp. Tuy nhiên, dù sử dụng phương pháp nào cũng phải tuân theo một yêu cầu chung là phải diễn đạt chính xác, rõ ràng, dễ hiểu, dễ vận dụng. Cần phải diễn đạt sao cho cùng một vấn đề mà mọi người đều hiểu thống nhất, vận dụng thống nhất. Không thể có một quy định của quy phạm pháp luật mà hiểu nhiều cách khác nhau. 4. Vai trò của quy phạm pháp luật Quy phạm pháp luật là yếu tố đầu tiên, cơ bản trong cơ chế điều chỉnh pháp luật và xây dựng hệ thống pháp luật. Không có quy quy phạm pháp luật, không có thước đo, thì không thể có sự điều chỉnh pháp luật, và do đó, không có cơ chế điều chỉnh pháp luật đối với các quan hệ xã hội. Thông qua quy phạm pháp luật nhà nước quản lý xã hội. Quản lý xã hội, theo góc độ pháp lý, là việc nhà nước dùng quy phạm pháp luật để điều chỉnh hành vi của các thành viên trong xã hội, sao cho khi họ tham gia các quan hệ xã hội phải xử sự thống nhất theo một quy tắc chung, theo ý chí của nhà nước đã được thể hiện trong quy phạm pháp luật. Hệ thống pháp luật là tổng thể các quy phạm pháp luật. Quy phạm pháp luật được coi là “tế bào” của hệ thống pháp luật, là yếu tố cơ bản để xây dựng hệ thống pháp luật của một nhà nước. Pháp luật của một nhà nước là hệ thống các quy phạm pháp luật. Quy phạm pháp luật là cơ sở pháp lý đảm bảo sự hoạt động của Bộ máy nhà nước. Các cơ quan nhà nước đều phải hoạt động trong phạm vi thẩm quyền được quy định cụ thể bằng những quy phạm pháp luật. Các nhà chức trách, các nhân viên nhà nước phải dựa vào quy phạm pháp luật để thực thi công vụ của mình. Có như vậy họ mới đủ lòng tin để thực hiện đúng chức trách một cách có hiệu quả. 29

Pháp luật Kinh tế

Quy phạm pháp luật là cơ sở pháp lý đối với quyền tự do, quyền dân chủ của công dân, đối với hành vi hợp pháp của con người trong xã hội. Các quy phạm pháp luật tác động lên con người trong quan hệ xã hội trên hai mặt, tác động giáo dục tư tưởng và tác động pháp lý. Tác động giáo dục tư tưởng của quy phạm pháp luật thể hiện tương tự như các biện pháp giáo dục tư tưởng khác. Khi con người biết được những quy định của pháp luật về quyền tự do, quyền dân chủ thì trình độ nhận thức, trình độ văn hóa của họ được nâng cao. Tác động pháp lý của quy phạm pháp luật tạo cho con người sự hiểu biết cần thiết về pháp luật, đồng thời khẳng định những quyền và nghĩa vụ pháp lý của họ. Để tạo cho con người có kiến thức pháp luật và hiểu biết quyền và nghĩa vụ pháp lý, ngoài việc tiến hành trên ý thức, còn phải thông qua sự điều chỉnh bằng pháp luật đối với quan hệ xã hội. Dựa vào quy phạm pháp luật, nhà nước có khả năng bảo vệ các quan hệ xã hội đã có, tạo điều kiện cho các quan hệ xã hội mới phát sinh có điều kiện phát triển, góp phần thanh toán, loại bỏ các quan hệ xã hội đối lập với xã hội mới. 5. Phân loại quy phạm pháp luật Có nhiều cách phân loại quy phạm pháp luật. Thông thường có ba cách phân loại phổ biến như sau: Căn cứ vào vai trò trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội quy phạm pháp luật được phân biêt thành các loại: Quy phạm điều chỉnh, là quy phạm thiết lập các quyền và nghĩa vụ pháp lý của những người tham gia quan hệ xã hội. Các quy phạm pháp luật loại này hướng đến việc hình thành các hành vi hợp pháp. Đây là loại quy phạm phổ biến nhất trong pháp luật xã hội chủ nghĩa. Quy phạm bảo vệ, là quy phạm xác định trước các biện pháp tác động mang tính cưỡng chế nhà nước đối với hành vi vi phạm pháp luật. Đây là loại quy phạm đối với hành vi không hợp pháp và luôn luôn bị tác động bởi chế tài. Các loại quy phạm trong luật hình sự thường là loại này. Quy phạm chuyên môn, là những quy phạm chứa đựng nội dung là những quy định nhằm bảo đam hiệu lực của các quy phạm điều chỉnh và quy phạm bảo vệ. Căn cứ vào nội dung và hình thức, quy phạm pháp luật được chia thành: quy phạm nội dung (quy phạm thực định) và quy phạm hình thức (quy phạm tố tụng).  Quy phạm nội dung là quy phạm điều chỉnh mặt nội dung của quan hệ xã hội, xác định quyền và nghĩa vụ hay trách nhiệm pháp lý của các chủ thể tham gia. Quy phạm hình thức là quy phạm xác định trình tự, thủ tục pháp lý, hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc thực hiện và bảo vệ các quy phạm nội dung; quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia các quan hệ xã hội. II. QUAN HỆ PHÁP LUẬT VÀ SỰ KIỆN PHÁP LÝ 1. Khái niệm, đặc điểm quan hệ pháp luật Quan hệ giữa người và người - quan hệ xã hội - rất đa dạng và phong phú, phát sinh trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Chúng tồn tại giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với tổ chức, tập thể và nhà nước; giữa tổ chức với nhau hoặc với nhà nước... Các quan hệ này được điều chỉnh bởi tổng thể những quy phạm xã hội khác nhau: quy phạm đạo đức, quy phạm tôn giáo, quy phạm phong tục, quy tắc đoàn thể, 30

Pháp luật Kinh tế

quy phạm pháp luật... Trong xã hội có nhà nước, các quan hệ xã hội quan trọng nhất được điều chỉnh bằng các quy phạm pháp luật. Với các quy phạm pháp luật, nhà nước tác động vào các quan hệ xã hội, bằng cách xác định rõ quyền và nghĩa vụ cho các bên tham gia quan hệ. Quyền thì được hưởng, nghĩa vụ phải gánh vác và Nhà nước sẽ bảo đảm thực hiện. Quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh. Do đó quan hệ pháp luật là hình thức pháp lý của các quan hệ xã hội do có sự tác động điều chỉnh của quy phạm pháp luật. Quan hệ pháp luật là hình thức biến thể của một quan hệ xã hội do một quy phạm pháp luật điều chỉnh, trong đó quyền và nghĩa vụ được nhà nước quy định và bảo đảm thực hiện. Quan hệ pháp luật có những đặc điểm: - Quan hệ pháp luật là quan hệ mang tính ý chí, quan hệ pháp luật phát sinh trên cơ sở quy phạm pháp luật, mà quy phạm pháp luật phản ánh ý chí của nhà nước. Nhiều trường hợp, trong khuôn khổ pháp luật, quan hệ pháp luật phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt do ý chí của các bên chủ thể tham gia, ví dụ hợp đồng, di chúc... - Quan hệ pháp luật xuất hiện trên cơ sở quy phạm pháp luật, không có quy phạm pháp luật thì không có quan hệ pháp luật. Quan hệ pháp luật là hình thức biến thể của một quan hệ xã hội, một quan hệ xã hội chỉ trở thành một quan hệ pháp luật khi có một quy phạm pháp luật được ban hành để điều chỉnh quan hệ xã hội đó. Mặt khác quan hệ pháp luật là phương tiện để thực hiện quy phạm pháp luật. Quy phạm pháp luật chỉ được thực hiện trong đời sống khi có các quan hệ pháp luật phát sinh. - Quan hệ pháp luật thuộc thượng tầng kiến trúc, Pháp luật là một hiện tượng thuộc thượng tầng kiến trúc, quan hệ pháp luật lại xuất hiện trên cơ sở các quy phạm pháp luật, do vậy quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội thuộc thượng tầng kiến trúc. - Quan hệ pháp luật được bảo đảm thực hiện bằng cưỡng chế nhà nước, Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ pháp luật luôn được bảo đảm bằng sự cưỡng chế của nhà nước. Quyền được nhà nước bảo đảm và bảo vệ, nghĩa vụ nhà nước buộc phải thực hiện. 2. Cơ cấu của quan hệ pháp luật Quan hệ pháp luật được hợp thành bởi các yếu tố: Chủ thể của quan hệ pháp luật, khách thể của quan hệ pháp luật và nội dung của quan hệ pháp luật. 2.1. Chủ thể quan hệ pháp luật Chủ thể pháp luật có đặc trưng đặc biệt là nhà nước trao cho họ năng lực chủ thể, tức là khả năng tham gia vào các quan hệ pháp luật và để trở thành chủ thể quan hệ pháp luật, mà khả năng đó được nhà nước thừa nhận và bảo đảm. Năng lực chủ thể gồm hai yếu tố: năng lực pháp luật và năng lực hành vi Năng lực pháp luật là khả năng của chủ thể được tham gia quan hệ pháp luật để hưởng quyền và gánh chịu nghĩa vụ pháp lý. Như vậy, chủ thể pháp luật, dù là cá nhân hay tổ chức, bắt buộc phải có năng lực pháp luật. Năng lực hành vi là khả năng của chủ thể bằng hành vi (hành động hoặc không hành động) của bản thân tham gia một quan hệ pháp luật để tạo ra quyền và nghĩa vụ và chịu trách nhiệm pháp lý trước hành vi đó. 31

Pháp luật Kinh tế

Năng lực pháp luật và năng lực hành vi không phải là thuộc tính tự nhiên của chủ thể pháp luật mà xuất hiện trên cơ sở pháp luật, phụ thuộc vào ý chí của nhà nước. Năng lực pháp luật và năng lực hành vi là những thuộc tính pháp lý có mối quan hệ với nhau. Chủ thể pháp luật chỉ có năng lực pháp luật mà không có năng lực hành vi thì không thể trở thành chủ thể quan hệ pháp luật trực tiếp, chủ động được. Ngược lại, một người có năng lực hành vi nói chung nhưng không năng lực pháp luật ở lĩnh vực nào đó thì không thể tham gia quan hệ pháp luật ở những lĩnh vực đó. Một cá nhân hoặc tổ chức muốn trở thành chủ thể pháp luật: điều kiện cần là năng lực pháp luật; điều kiện đủ là năng lực hành vi. Năng lực pháp luật là phạm trù mang tính giai cấp sâu sắc. Mỗi kiểu nhà nước, tùy theo giai cấp được nhà nước ấy đại diện, có quy định khác nhau về năng lực pháp luật. Chẳng hạn trong xã hội chiếm hữu nô lệ, nô lệ không được thừa nhận là chủ thể pháp luật, tức là không có năng lực pháp luật... Theo pháp luật của nhà nước ta, công dân Việt Nam, người nước ngoài, người không quốc tịch sống trên lãnh thổ Việt Nam và các tổ chức là chủ thể pháp luật nếu có năng lực chủ thể. 1) Chủ thể quan hệ pháp luật là những cá nhân mang quốc tịch Việt Nam (công dân, thể nhân Việt Nam). Năng lực chủ thể của công dân xuất hiện từ lúc mới sinh ra, vì từ thời điểm đó họ được công nhận là chủ thể pháp luật. Cuộc sống, tự do, danh dự, nhân phẩm... của họ được pháp luật bảo đảm. Năng lực chủ thể đó phát triển cùng với sự trưởng thành và đến một độ tuổi nhất định thì đầy đủ. Trong hai yếu tố của năng lực chủ thể, trong nhiều lĩnh vực năng lực pháp luật có ngay từ lúc mới sinh ra, còn năng lực hành vi thì xuất hiện dần với độ tuổi trưởng thành. Năng lực hành vi phụ thuộc vào độ tuổi, sức khỏe, trình độ văn hóa, tâm lý... 2) Người nước ngoài, người không quốc tịch trở thành chủ thể pháp luật Việt Nam theo điều kiện áp dụng cho công dân Việt Nam. Tuy nhiên trong một số lĩnh vực, năng lực pháp luật của họ bị hạn chế hoặc một số trường hợp cá biệt lại được mở rộng hơn. 3) Các tổ chức: Nhà nước nói chung, các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội khác cũng là chủ thể phổ biến của quan hệ pháp luật. Nhà nước là chủ thể pháp luật đặc biệt trong một số lĩnh vực, là chủ thể của luật quốc tế, của ngành luật nhà nước. Các tổ chức khác là chủ thể pháp luật có đặc điểm: (1) Có cơ cấu tổ chức thống nhất được quy định trong quy chế, điều lệ hoặc trong các văn bản của nhà nước; (2) Có năng lực pháp luật xác định; Năng lực pháp luật và năng lực hành vi được nhà nước quy định, xuất hiện đồng thời với việc chính thức thành lập các tổ chức ấy, được chỉ ra trong các điều lệ, quy chế hoặc văn bản của nhà nước. Bởi vậy, khi đề cập tới chủ thể pháp luật là một tổ chức chỉ nói tới năng lực pháp luật mà không cần đề cập tới năng lực hành vi, bởi trong đó đã bao hàm năng lực hành vi; 32

Pháp luật Kinh tế

(3) Hành vi của tổ chức được thực hiện thông qua người đại diện (giám đốc, ban chủ nhiệm, thủ trưởng cơ quan,...) (4) Hoạt động của các tổ chức gắn với những lĩnh vực nhất định, do đó, năng lực chủ thể của tổ chức gắn liền với mục đích thành lập và lĩnh vực hoạt động của tổ chức. Trong lĩnh vực dân sự, kinh tế..., tổ chức phải có tư cách pháp nhân mới trở thành chủ thể độc lập của các quan hệ luật dân sự, luật kinh tế... Tư cách pháp nhân của một tổ chức do pháp luật quy định. 2.2. Nội dung của quan hệ pháp luật Một trong những cấu thành của quan hệ pháp luật là nội dung của nó, đó là các quyền và nghĩa vụ của chủ thể tham gia quan hệ pháp luật. Quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể là những hình thức pháp lý cụ thể được nhà nước sử dụng tác động tới cách xử sự của con người nhằm điều chỉnh và bảo vệ các quan hệ xã hội. Quyền chủ thể, trong quan hệ pháp luật, là khả năng xử sự của chủ thể được pháp luật quy định và bảo đảm. Quyền chủ thể không phải là bản thân xử sự (hành vi) mà chỉ là khả năng xử sự. Nếu khả năng này được chủ thể thực hiện trên thực tế thì mới xuất hiện sự thực hiện quyền chủ thể. Quyền chủ thể có các đặc điểm: ♦ Khả năng chủ thể được thực hiện hành vi trong khuôn khổ quy phạm pháp luật; ♦ Khả năng yêu cầu bên kia (chủ thể cùng tham gia quan hệ pháp luật) thực hiện nghĩa vụ của họ; ♦ Khả năng yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết đối với chủ thể bên kia để họ thực hiện nghĩa vụ, trong trường hợp quyền chủ thể của mình bị vi phạm. Nghĩa vụ của chủ thể trong quan hệ pháp luật là cách xử sự bắt buộc được quy phạm pháp luật quy định trước mà một bên chủ thể phải thực hiện nhằm đáp ứng việc thực hiện quyền chủ thể bên cùng tham gia quan hệ pháp luật. Nghĩa vụ chủ thể không phải là khả năng xử sự, mà là sự cần thiết, bắt buộc phải xử sự. Nghĩa vụ chủ thể pháp luật có các đặc điểm: ♦ Là sự bắt buộc phải có những xử sự nhất định do quy phạm pháp luật định trước ♦ Cách xử sự này nhằm thực hiện quyền chủ thể của bên cùng tham gia quan hệ ♦ Trong trường hợp cần thiết, nghĩa vụ pháp lý sẽ được bảo đảm bằng sự cưỡng chế của nhà nước. Trong quan hệ pháp luật xã hội chủ nghĩa, quyền chủ thể và nghĩa vụ chủ thể thống nhất với nhau. Quyền một chủ thể này được thực hiện bởi việc thực hiện nghĩa vụ của một chủ thể khác, và ngược lại. 2.3. Khách thể của quan hệ pháp luật Cá nhân, tổ chức khi tham gia vào một quan hệ pháp luật nào đó đều nhằm thỏa mãn những nhu cầu nhất định về vật chất, tinh thần, về chính trị, văn hóa... Tuy nhiên, không phải mọi nhu cầu đó đều được pháp luật cho phép thực hiện do lợi ích, an toàn quốc gia, an toàn xã hội, chẳng hạn như sự trả thù bằng cách giết người, hoặc tìm kiếm lợi ích kinh tế bằng việc mua bán, vận chuyển các chất ma túy... Lợi ích mà 33

Pháp luật Kinh tế

các chủ thể muốn đạt được là yếu tố không thể thiếu của quan hệ pháp luật và cũng chính điều đó mà pháp luật xác định những quan hệ xã hội nào pháp luật cần điều chỉnh. Những lợi ích mà các chủ thể hướng tới hoặc mong muốn đạt được chính là khách thể của quan hệ pháp luật. Đặc điểm của khách thể quy định tính chất của quan hệ pháp luật là quan trọng hay ít quan trọng và từ đó, Nhà nước còn xác định các phương pháp điều chỉnh khác nhau đối với các quan hệ xã hội khác nhau. Khách thể của quan hệ pháp luật là những lợi ích mà vì chúng các chủ thể tham gia vào các quan hệ pháp luật, là đối tượng mà trên đó xuất hiện quyền và nghĩa vụ chủ thể. 3. Sự kiện pháp lý và căn cứ phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật Sự kiện pháp lý là những sự việc, tình huống, hoàn cảnh thực tế xảy ra phù hợp với những quy phạm pháp luật, làm phát sinh, thay đổi chấm dứt một quan hệ pháp luật. Sự kiện pháp lý là các sự kiện trong số các sự kiện thực tế có mang ý nghĩa pháp lý. Ý nghĩa pháp lý của một sự kiện thực tế chính là tính chất khi nó được một quy phạm pháp luật đề cập tới và dự liệu nó nằm trong phạm vi tác động của quy phạm pháp luật. Một sự kiện chỉ có là sự kiện pháp lý khi pháp luật xác định rõ điều đó. Sự kiện pháp lý được chia thành sự biến và hành vi: +Sự biến pháp lý là các hiện tượng (sự cố) tự nhiên, xảy ra ngoài ý chí, dự định và khả năng kiểm soát của con người; pháp luật gắn các các sự kiện đó với việc hình thành, thay đổi, chấm dứt các quyền và nghĩa vụ pháp lý + Hành vi pháp lý là những xử sự có ý thức của con người mà gắn với nó là sự phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ pháp lý. Hành vi là xử sự có ý thức bao gồm hành động và không hành động. Những hành động vô thức không được gọi là hành vi và không mang tính chất pháp lý. Căn cứ vào mức độ phù hợp với các quy định của pháp luật chúng ta có thể xác định được những hành vi hợp pháp và những hành vi không hợp pháp. Những hành vi không hợp pháp là những hành vi vi phạm, không tuân thủ pháp luật một cách đầy đủ, chính xác, tuyệt đối. Ngoài hành vi không hợp pháp, những hành vi pháp lý khác được coi là hợp pháp. Như vậy, sự kiện pháp lý là một vấn đề có liên quan đến sự tồn tại, phát sinh, thay đổi chấm một quan hệ pháp luật. Cùng với sự kiện pháp lý, các điều kiện khác làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt một quan hệ pháp luật còn gồm: quy phạm pháp luật, chủ thể. - Quy phạm pháp luật là cơ sở làm phát sinh quan hệ pháp luật. Thiếu quy phạm pháp luật điều chỉnh một quan hệ xã hội nào đó thì không thể xuất hiện quan hệ pháp luật tương ứng. - Sự hiện diện của chủ thể có năng lực chủ thể (năng lực pháp luật và năng lực hành vi do pháp luật quy định) là điều kiện không thể thiếu cho sự xuất hiện quan hệ pháp luật. - Quan hệ pháp luật xuất hiện, thay đổi hoặc chấm dứt khi có sự kiện pháp lý phù hợp với quy phạm pháp luật. Sự kiện pháp lý được coi là điều kiện đủ để làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt một quan hệ pháp luật. 34

Pháp luật Kinh tế

III. THỰC HIỆN PHÁP LUẬT Pháp luật được Nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo một trật tự, định hướng nhất định. Do đó, thực hiện đúng đắn và nghiêm chỉnh pháp luật là một yêu cầu khách quan của quản lý nhà nước bằng pháp luật. Đi cùng với công tác xây dựng pháp luật là tổ chức triển khai thực hiện pháp luật trên thực tế. Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật trở thành hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật. Tất cả các hành vi xử sự của chủ thể pháp luật phù hợp với quy định của pháp luật đều là thực hiện pháp luật. Do tính chất đa dạng, phức tạp và ở nhiều lĩnh vực khác nhau của các quy phạm pháp luật, việc thực hiện các quy phạm pháp luật này cũng có nhiều hình thức khác nhau. Căn cứ vào tính chất của hoạt động thực hiện pháp luật, khoa học pháp lý phân biệt những hình thức thực hiện pháp luật sau: 1. Tuân thủ pháp luật Tuân thủ pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật, đòi hỏi chủ thể phải tự kiềm chế mình không tiến hành các hành vi đã bị pháp luật cấm đoán. Trong khi tuân thủ, chủ thể thực hiện nghĩa vụ một cách thụ động không cần một hành vi hành động nào cả để phù hợp với yêu cầu của pháp luật. 2. Chấp hành pháp luật Khác với hình thức tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật đòi hỏi chủ thể pháp luật phải có những hành vi tích cực để thực hiện các nghĩa vụ pháp lý, tức là phải thực hiện những điều pháp luật bắt buộc làm. 3. Sử dụng pháp luật Sử dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện quyền chủ thể của mình, tức là thực hiện những hành vi mà luật cho phép. Khác với các hình thức trên, ở hình thức này, chủ thể pháp luật có thể thực hiện hoặc không thực hiện quyền mà pháp luật cho phép theo ý chí của mình, chứ không bị ép buộc. 4. Áp dụng pháp luật Áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính tổ chức quyền lực của nhà nước, được thực hiện thông qua những cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhà chức trách, hoặc các tổ chức xã hội khi được nhà nước giao quyền, nhằm cá biệt hóa các quy phạm pháp luật vào từng trường hợp cụ thể, với các chủ thể cụ thể. Áp dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó, nhà nước, thông qua cơ quan có thẩm quyền hoặc nhà chức trách tổ chức cho các chủ thể thực hiện những quy định của pháp luật. Trong trường hợp này các chủ thể pháp luật thực hiện pháp luật có sự can thiệp của nhà nước. Một số trường hợp đặc biệt, theo quy định của pháp luật, tổ chức xã hội cũng có thể tiến hành hoạt động áp dụng pháp luật. Áp dụng pháp luật vừa là hình thức thực hiện pháp luật vừa là một giai đoạn đặc thù của sự thực hiện pháp luật. Mục đích trực tiếp của áp dụng pháp luật là bảo đảm cho những quy phạm pháp luật được thực hiện trong đời sống thực tế. Thiếu sự bảo 35

Pháp luật Kinh tế

đảm này, thì không ít trường hợp, các quy phạm pháp luật không được thể hiện trong hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật. Có những trường hợp, nếu không có sự can thiệp của nhà nước thì các quy phạm pháp luật sẽ không được thực hiện hoặc thực hiện không đúng. Pháp luật tác động vào các quan hệ xã hội, vào cuộc sống, chỉ có thể đạt hiệu quả cao, khi tất cả quy định của nó được thực hiện chính xác và triệt để. Chỉ thông qua hình thức tuân thủ pháp luật hoặc chấp hành pháp luật thì sẽ có những quy phạm pháp luật không được thực hiện, có thể là do các chủ thể không muốn thực hiện hoặc không đủ khả năng thực hiện nếu thiếu sự tham gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Đặc điểm của áp dụng pháp luật: Thứ nhất, áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính tổ chức quyền lực nhà nước. Đó là hoạt động do cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành. Một số trường hợp cá biệt do tổ chức xã hội có thẩm quyền tiến hành. Hoạt động áp dụng pháp luật được tiến hành theo ý chí đơn phương của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Khi tiến hành áp dụng pháp luật, cơ quan nhà nước không phụ thuộc vào ý chí của chủ thể bị áp dụng. Sự áp dụng pháp luật có tính bắt buộc đối với chủ thể bị áp dụng và các chủ thể liên quan, trong trường hợp cần thiết quyết định áp dụng pháp luật, được bảo đảm thực hiện bởi sự cưỡng chế nhà nước. Thứ hai, áp dụng pháp luật là hoạt động có hình thức thủ tục được pháp luật quy định chặt chẽ. Pháp luật quy định rõ ràng cơ sở, điều kiện, trình tự, thủ tục, quyền và nghĩa vụ của các bên trong quá trình áp dụng pháp luật. Thứ ba, áp dụng pháp luật là hoạt động điều chỉnh cá biệt, cụ thể đối với quan hệ xã hội. Đó là sự tiếp tục của sự điều chỉnh quy phạm pháp luật trong những trường hợp cần thiết. Đối tượng của hoạt động áp dụng pháp luật là những quan hệ xã hội yêu cầu điều chỉnh cá biệt, bổ sung trên những quy tắc xử sự chung của quy phạm pháp luật. Bằng hoạt động áp dụng pháp luật, quy phạm pháp luật được cá biệt hóa đi vào đời sống xã hội. Sản phẩm của áp dụng pháp luật là một văn bản áp dụng pháp luật được thực thi đối với một số chủ thể cụ thể trong một vụ việc cụ thể. Khác với văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực nhiều lần, văn bản áp dụng pháp luật được ban hành bởi cơ quan có thẩm quyền áp dụng pháp luật, áp dụng một lần trong cuộc sống cho một vụ việc cụ thể. Thứ tư, áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính sáng tạo của cơ quan nhà nước, các nhà chức trách khi vận dụng pháp luật. Trường hợp pháp luật chưa có phải biết vận dụng pháp luật tương tự. IV. VI PHẠM PHÁP LUẬT VÀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ 1. Vi phạm pháp luật Pháp luật được thực hiện trong cuộc sống thông qua các hành vi của các chủ thể pháp luật, về cơ bản, các yêu cầu của pháp luật thường được các chủ thể thực hiện một cách tự nguyện và đầy đủ. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, trong đời sống xã hội vẫn xảy ra hiện tượng các chủ thể đã có những hành vi không phù hợp với yêu cầu của pháp luật. Những hành vi của chủ thể không phù hợp với pháp luật là hành vi trái pháp luật. Song không phải hành vi trái pháp luật nào cũng bị coi là vi phạm pháp 36

Pháp luật Kinh tế

luật. Chỉ hành vi trái pháp luật nào mà do lỗi của chủ thể mới được coi là vi phạm pháp luật. Việc xem xét một hành vi trái pháp luật có phải là vi phạm pháp luật hay không, và mức độ vi phạm nhiều hay ít là hết sức quan trọng. Bởi vì, vi phạm pháp luật là sự kiện pháp lý làm phát sinh một quan hệ pháp lý đặc biệt - gọi là trách nhiệm pháp lý. Có bốn căn cứ, dựa vào đó, để xét một hành vi có là vi phạm pháp luật hay không. Khoa học pháp lý gọi đó là các yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật. Thứ nhất, mặt khách quan của vi phạm pháp luật: là những dấu hiệu biểu hiện ra bên ngoài có thể nhận biết được. Bao gồm: - Hành vi trái pháp luật, là những hành động hoặc không hành động của các chủ thể mà không phù hợp với pháp luật, xâm hại tới các quan hệ xã hội được pháp luật xác lập và bảo vệ. Không thể coi những ý nghĩ, tư tưởng, nhận thức, ý chí của con người nếu không biến thành hành vi cụ thể là vi phạm pháp luật. Tính chất trái pháp luật của hành vi thể hiện ở xử sự không phù hợp với pháp luật, dưới hình thức hành động là đã có hành động làm điều luật cấm, hoặc không đúng điều luật cho phép; dưới hình thức không hành động là đã không thực hiện nghĩa vụ pháp luật quy định. - Hậu quả của hành vi, mọi hành vi trái pháp luật đều xâm phạm trật tự pháp luật, gây thiệt hại chung cho xã hội, hoặc thiệt hại về vật chất hoặc thiệt hại về tinh thần cho từng thành viên cụ thể của xã hội ở những mức độ khác nhau, các hành vi trái pháp luật đều gây nguy hại cho xã hội. Sự nguy hiểm của hành vi trái pháp luật được biểu hiện mức độ thiệt hại thực tế cho xã hội hoặc nguy cơ xảy ra thiệt hại đối với xã hội do hành vi đó gây ra. - Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và hậu quả của nó là sự thiệt hại. Phân tích mối quan hệ này rất có ý nghĩa trong việc truy cứu trách nhiệm pháp lý; hậu quả thực tể xảy ra phải có nguyên nhân trực tiếp, là kết quả tất yếu của hành vi vi phạm pháp luật. - Thời gian, địa điểm xảy ra vi phạm, cách thức và phương tiện liên quan đến vi phạm cũng là dấu hiệu trong mặt khách quan cần phải xem xét. Thứ hai, khách thể của vi phạm pháp luật: là các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ nhưng bị hành vi vi phạm pháp luật xâm hại tới. Tính chất của khách thể có ý nghĩa quan trọng để xác định mức độ vi phạm của hành vi vi phạm pháp luật. Thứ ba, mặt chủ quan của vi phạm pháp luật được đặc trưng bởi yếu tố lỗi, có liên quan đến lỗi là động cơ, mục đích của chủ thể thực hiện vi phạm pháp luật. Lỗi là thái độ chủ quan của con người, là trạng thái tâm lý phản ánh thái độ tiêu cực của chủ thể đối với hành vi trái pháp luật của mình cũng như đối với hậu quả của hành vi đó. Hành vi trái pháp luật mà không có lỗi thì không phải là vi phạm pháp luật. Lỗi được phân biệt thành các loại lỗi cố ý và vô ý như sau: ♦ Lỗi cố ý trực tiếp, chủ thể vi phạm pháp luật thấy trước thiệt hại cho xã hội do mình gây ra, nhưng vẫn mong muốn điều đó xảy ra. ♦ Lỗi cố ý gián tiếp, chủ thể vi phạm pháp luật thấy trước thiệt hại cho xã hội do hành vi của mình gây ra, tuy không mong muốn nhưng để mặc cho nó xảy ra. 37

Pháp luật Kinh tế ♦ Lỗi vô ý do quá tự tin, chủ thể nhận biết được hậu quả thiệt hại do hành vi của

mình gây ra, nhưng hy vọng, tin tưởng điều đó không thể xảy ra. ♦ Lỗi vô ý cẩu thả, chủ thể vi phạm do khinh xuất, cẩu thả mà không nhận thấy trước hậu quả thiệt hại do hành vi của mình gây ra, mặc dù có thể nhận biết và cần phải nhận biết trước. Động cơ và mục đích, có liên quan đến lỗi. Động cơ là lý do thúc đẩy chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Mục đích là kết quả mà chủ thể muốn đạt được khi thực hiện hành vi vi phạm. Trong nhiều trường hợp, việc xác định rõ động cơ, mục đích có ý nghĩa rất quan trọng để xác định mức độ của lỗi, từ đó xác định chính xác tính chất của hành vi vi phạm pháp luật, xác định trách nhiệm pháp lý đúng đắn. Thứ tư, chủ thể vi phạm pháp luật. Chủ thể vi phạm pháp luật là cá nhân, tổ chức đã thực hành vi vi phạm pháp luật. Hành vi trái pháp luật, có lỗi mới coi là vi phạm pháp luật. Bởi vậy, chủ thể của vi phạm pháp luật phải là người có năng lực hành vi để nhận thức và quyết định xử sự của mình, có khả năng gánh chịu trách nhiệm pháp lý. Năng lực hành vi của chủ thể là cá nhân có liên quan đến độ tuổi trưởng thành, tùy theo tính chất của loại quan hệ xã hội, pháp lụật quy định cụ thể điều kiện về năng lực hành vi. Năng lực hành vi không đặt ra với chủ thể là tổ chức. Người mất trí không có năng lực hành vi. Người không có năng lực hành vi dù có hành động trái pháp luật cũng không bị coi là vi phạm pháp luật. 2. Trách nhiệm pháp lý Trong lĩnh vực pháp lý, thuật ngữ “trách nhiệm” được hiểu theo hai nghĩa khác nhau: tích cực và tiêu cực. Theo nghĩa tích cực, trách nhiệm được hiểu là điều cần phải làm trong hiện tại và tương lai, ở nghĩa này, trách nhiệm đồng nhất với “nghĩa vụ" là nội dung quan hệ pháp luật và tương đồng với “bổn phận” trong quan hệ đạo đức. Đó là hành vi phải tiến hành trong hiện tại và tương lai. Theo nghĩa tiêu cực, trách nhiệm pháp lý được hiểu là hậu quả pháp lý bất lợi về vật chất và tinh thần đối với một chủ thể đã có hành vi vi phạm pháp luật xảy ra trong quá khứ, biểu hiện sự lên án, phê phán của nhà nước và dư luận của xã hội đối với hành vi đó. Và trách nhiệm pháp lý được khái niệm như sau: Trách nhiệm pháp lý là loại quan hệ pháp lý đặc biệt giữa nhà nước, thông qua cơ quan nhà nước có thẩm quyền, và chủ thể vi phạm pháp luật, theo đó, Nhà nước có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế có tính chất trừng phạt được quy định ở các chế tài quy phạm pháp luật đối với chủ thể vi phạm pháp luật và chủ thể vi phạm phải gánh chịu hậu quả bất lợi do đã vi phạm pháp luật. Đặc điểm của trách nhiệm pháp lý a)Trách nhiệm pháp lý mang yếu tố sự lên án của nhà nước và xã hội đối với hành vi vi phạm pháp luật, là sự phản ứng của nhà nước đối với hành vi đó. Đặc điểm này thể hiện ở nội dung của trách nhiệm pháp lý. Vì vậy, trách nhiệm pháp lý là biện pháp tác động có hiệu quả đối với chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật. b)Về mặt hình thức, trách nhiệm pháp lý là việc thực hiện chế tài pháp luật thông qua hoạt động quản lý và tài phán của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và việc 38

Pháp luật Kinh tế

chủ thể vi phạm pháp luật phải thực hiện chế tài đó. Có nhiều loại chế tài pháp luật. Trách nhiệm pháp lý không phải là sự áp dụng chế tài bất kỳ, mà chỉ áp dụng các chế tài có tính chất trừng phạt: Chế tài hình sự, áp dụng cho trách nhiệm hình sự; Chế tài hành chính, áp dụng cho trách nhiệm hành chính; Chế tài kỷ luật, áp dụng cho trách nhiệm kỷ luật; Chế tài dân sự (chế tài tài sản), áp dụng cho trách nhiệm dân sự. c)Trách nhiệm pháp lý liên quan đến sự cưỡng chế nhà nước. Khi có hành vi vi phạm pháp luật xảy ra, thì lúc đó giữa chủ thể vi phạm và cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ xuất hiện một loại quan hệ pháp luật, trong đó nhà nước có quyền xác định các biện pháp cưỡng chế và áp dụng các biện pháp cưỡng chế đó. Nhưng không phải mọi biện pháp cưỡng chế trong trường hợp này là trách nhiệm pháp lý. Chỉ những biện pháp nào có tính chất trừng phạt, tức là tước đoạt, làm thiệt hại về một phạm vi nào đó các quyền tự do, lợi ích hợp pháp mà chủ thể vi phạm pháp luật đáng ra được hưởng. Những biện pháp cưỡng chế nhằm mục đích ngăn ngừa vi phạm pháp luật đang xảy ra không thuộc loại trách nhiệm pháp lý. d)Cơ sở thực tế của trách nhiệm pháp lý là hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm pháp luật là nguyên nhân, trách nhiệm pháp lý là hậu quả. Cơ sở pháp lý của việc xác định trách nhiệm pháp lý là quyết định có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Đặc điểm này xuất phát từ quan hệ không tách rời giữa trách nhiệm pháp lý và nhà nước. Chỉ có cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới xác định một cách chính thức hành vi nào là hành vi vi phạm pháp luật và áp dụng biện pháp pháp lý đối với chủ thể đã gây ra hành vi vi phạm pháp luật đó. V. Ý THỨC PHÁP LUẬT 1. Khái niệm ý thức pháp luật Ý thức pháp luật là tổng thể những học thuyết, tư tưởng, quan niệm, quan điểm thịnh hành trong xã hội, thể hiện mối quan hệ của con người đối với pháp luật hiện hành, pháp luật đã qua cũng như pháp luật cần có. Ý thức pháp luật là một hình thái ý thức xã hội, biểu hiện mối quan hệ của mọi người đối với pháp luật. Ý thức pháp luật mang tính giai cấp, do tồn tại xã hội quyết định và có mối quan hệ qua lại với tồn tại xã hội. Trong xã hội có giai cấp đối kháng không thể có ý thức pháp luật thống nhất, ý thức pháp luật thống trị trong xã hội là ý thức của giai cấp nắm chính quyền và được phản ánh đầy đủ nhất trong pháp luật. Ý thức pháp luật là một yếu tố quan trọng trong cơ chế điều chỉnh bằng pháp luật đối với quan hệ xã hội. Nếu không có ý thức pháp luật sẽ không có hành động tự giác trong việc thực hiện pháp luật của con người đối với pháp luật. Ý thức pháp luật được nâng cao thì các hiện tượng vi phạm pháp luật sẽ giảm xuống. Ý thức pháp luật có đặc điểm: Thứ nhất, với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, ý thức pháp luật chịu sự quy định của tồn tại xã hội, nhưng nó có tính độc lập tương đối của nó. Tính độc lập tương đối đó thể hiện: nó thường lạc hậu hơn so với tồn tại xã hội; tồn tại xã hội cũ mất đi, tồn tại xã hội mới xuất hiện, nhưng ý thức pháp luật ra đời trên tồn tại xã hội cũ vẫn còn dai dẳng. Trong những điều kiện nhất định, ý thức pháp luật, đặc biệt là ý 39

Pháp luật Kinh tế

thức pháp luật tiến bộ có thể biểu thị sự phát triển của thực tại, chẳng hạn ý thức pháp luật vô sản tồn tại ngay trong xã hội tư bản. Hơn nữa, ý thức pháp luật còn có tính kế thừa, ý thức pháp luật phản ánh tồn tại của một xã hội nào đó, song nó vẫn kết thừa những yếu tố nhất định không thuộc vào ý thức pháp luật thời đó. Mặt khác ý thức pháp luật tác động trở lại đối với tồn tại xã hội, với chính trị, đạo đức và các yếu tố khác thuộc thượng tầng kiến trúc như nhà nước và pháp luật. Thứ hai, ý thức pháp luật mang tính giai cấp. Thế giới quan pháp lý của một giai cấp nhất định được quy định bởi vị trí của giai cấp đó trong xã hội. Mỗi quốc gia chỉ có một hệ thống pháp luật nhưng lại tồn tại một số hệ thống ý thức pháp luật. Có ý thức pháp luật của giai cấp thống trị, ý thức pháp luật của giai cấp bị trị, của tầng lớp trung gian...Về nguyên tắc, chỉ có ý thức pháp luật của giai cấp thống trị mới được phản ánh đầy đủ vào trong pháp luật. 2. Cấu trúc của ý thức pháp luật Ý thức pháp luật cấu thành bởi ba yếu tố: yếu tố tư tưởng, yếu tố tâm lý và yếu tố hành vi. Yếu tố tư tưởng biểu hiện sự hiểu biết pháp luật, trình độ giác ngộ, tin cậy vào pháp luật. Khoa học và thực tiễn pháp lý cũng như hoạt động thực tế của cơ quan bảo vệ pháp luật đã tạo điều kiện để hình thành yếu tố này. Yếu tố tâm lý bao gồm sự nhạy cảm với pháp luật, tình cảm của con người đối với pháp luật. Nếu như yếu tố tư tưởng của ý thức pháp luật là yếu tố thuộc phạm vi ý thức, thì yếu tố tâm lý thuộc phạm vi tình cảm đối với pháp luật. Việc tác động bằng tình cảm của pháp luật đối với con người là một nhiệm vụ quan trọng của Đảng Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội trong việc củng cố trật tự pháp luật, củng cố pháp chế xã hội chủ nghĩa. Yếu tố hành vi, yếu tố này thể hiện hành vi của con người sẵn sàng thực hiện hay chống đối lại pháp luật. Ý thức pháp luật phải được hình thành ở con người yếu tố hành vi luôn luôn tuân thủ, chấp hành pháp luật. Yếu tố thứ nhất là sự nhận thức của con người đối với pháp luật; yếu tố thứ hai là thái độ, tâm lý, tình cảm của con người sau khi đã nhận thức được pháp luật; yếu tố thứ ba là hành động của con người sau khi nhận thức được pháp luật, đồng ý hay phủ định pháp luật để có hành động tương ứng. Ba yếu tố đó có mối quan hệ chặt chẽ với nhau tạo thành ý thức pháp luật. Việc giáo dục, nâng cao ý thức pháp luật phải coi trọng cả ba yếu tố, không thể xem nhẹ một yếu tố nào. Pháp luật và Ý thức pháp luật là hai hiện tượng xã hội khác nhau nhưng có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau. Ý thức pháp luật là tiền đề tư tưởng trực tiếp để xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Đồng thời, ý thức pháp luật là nhân tố thúc đẩy thực hiện pháp luật và đảm bảo cho việc áp dụng pháp luật đúng đắn các quy phạm pháp luật. Ngược lại, Pháp luật là cơ sở để củng cố, phát triển nâng cao ý thức pháp luật. Việc nghiêm chỉnh thực hiện pháp luật, kiên quyết xử lý các hành vi vi phạm pháp luật làm cho ý thức, tình cảm đối với pháp luật được hình thành và phát triển một cách đúng đắn và rõ nét hơn. Việc giáo dục pháp luật nhằm nâng cao ý thức pháp luật sẽ là điều kiện quan trọng để góp phần vào việc xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh và tổ chức thực hiện pháp luật một cách có hiệu quả. 40

Pháp luật Kinh tế

VI. PHÁP CHẾ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA 1. Khái niệm pháp chế xã hội chủ nghĩa Pháp chế xã hội chủ nghĩa được hiểu là một cơ chế đặc biệt của đời sống chính trị - xã hội, trong đó tất cả các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, nhân viên nhà nước, nhân viên các tổ chức xã hội, và mọi công dân đều phải tôn trọng và thực hiện pháp luật một cách nghiêm chỉnh, triệt để và chính xác. Pháp chế xã hội chủ nghĩa là một cơ chế đặc biệt trong trong đời sống xã hội, đó là một yếu tố kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính chủ quan và khách quan có thể tác động đến tất cả các yếu tố khác của cơ chế điều chỉnh pháp luật, mang lại tính hiệu quả cao trong điều chỉnh pháp luật các quan hệ xã hội. Pháp chế là một phương thức quản lý của nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhà nước xã hội chủ nghĩa quản lý xã hội bằng pháp luật, biểu hiện yêu cầu trên hai lĩnh vực: + Nhà nước ban hành ra một hệ thống pháp luật luật hoàn chỉnh, đồng bộ và phù hợp với thực tế và xu hướng. Thể hiện tính dân chủ thực sự rộng rãi và lợi ích của mọi tầng lớp dân cư trong xã hội. + Tổ chức việc thực hiện pháp luật, áp dụng pháp luật một cách nghiêm chỉnh triệt để trên thực tế đời sống xã hội. Các cơ quan nhà nước, các nhà chức trách, các viên chức trong bộ máy nhà nước, các tổ chức chính trị-xã hội và thành viên của họ cũng như mọi công dân đều phải tôn trọng pháp luật, thực hiện nghiêm chỉnh các yêu cầu của pháp luật. 2. Những yêu cầu cơ bản của pháp chế xã hội chủ nghĩa + Tôn trọng tính hiệu lực tối cao của Hiến pháp và Luật: Hiến pháp và Luật là những văn bản pháp luật có hiệu lực cao nhất do Quốc hội ban hành, trực tiếp thể hiện ý chí và lợi ích của nhân dân. Do đó việc áp dụng pháp luật, giải thích pháp luật phải tôn trọng tính hiệu lực tối cao của các văn bản này, nhằm đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật, đồng thời đảm bảo việc áp dụng pháp luật đúng đắn và công bằng. Vấn đề đặt ra đối với yêu cầu này là phải chú trọng việc hoàn thiện Hiến pháp và các văn bản luật để làm cơ sở cho việc hoàn thiện và phát triển của toàn bộ hệ thống pháp luật; đồng thời nhanh chóng cụ thể hóa những quy định của Hiến pháp và Luật để đảm bảo hiểu đúng và áp dụng thống nhất trên thực tế. + Đảm bảo tính pháp chế trên quy mô toàn quốc: là yêu cầu pháp luật phải được thực hiện đúng đắn công bằng ở tất cả mọi địa phương, không có một biệt lệ nào. Thực hiện yêu cầu này, chúng ta sớm xóa bỏ đi tư tưởng cục bộ, bản vị và chủ nghĩa địa phương. Song bên cạnh đó cũng cần linh hoạt xem xét những điều kiện cụ thể của từng nơi từng vùng để có được hiệu quả cao trong điều chỉnh pháp luật và quản lý xã hội bằng pháp luật. + Các cơ quan xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện và bảo vệ pháp luật phải hoạt động một cách tích cực, sáng tạo và có hiệu quả. + Gắn liền công tác pháp chế với văn hóa. Trình độ văn hóa nói chung và trình độ văn hóa pháp lý nói riêng của các nhân viên nhà nước, nhân viên của các tổ chức xã hội và của công dân có ảnh hưởng rất lớn tới quá trình củng cố pháp chế xã hội 41

Pháp luật Kinh tế

chủ nghĩa. Trình độ văn hóa càng cao thì pháp chế càng vững mạnh. Do đó, văn hóa là cơ sở quan trọng để củng cố nền pháp chế, cần phải chú trọng nâng cao văn hóa nói chung và văn hóa pháp lý nói riêng cho mọi người dân trong xã hội. Pháp luật và pháp chế là hai khái niệm khác nhau nhưng rất gần nhau và có quan hệ khăng khít với nhau. Trên thực tế, khi có pháp chế tức là có pháp luật và pháp luật được áp dụng một cách có hiệu quả; nhưng cũng có trường hợp, lĩnh vực có pháp luật mà không có pháp chế, đó là biểu hiện không đưa được pháp luật vào thực tế đời sống. Pháp chế là là một phạm trù thể hiện các chủ thể phải tôn trọng và thực hiện pháp luật một cách triệt để. Pháp luật chỉ có thể phát huy được hiệu lực, điều chỉnh một cách có hiệu quả các quan hệ xã hội khi dựa trên cơ sở vững chắc của nền pháp chế. Ngược lại pháp chế chỉ có thể được củng cố và tăng cường khi có một hệ thống pháp luật đồng bộ, phù hợp, được điều chỉnh kịp thời các quan hệ xã hội. Đối với nhà nước ta hiện nay, pháp chế có một vị trí hết sức quan trọng và nó đã trở thành nguyên tắc chỉ đạo trong mọi lĩnh vực của quản lý nhà nước, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Điều 12- Hiến pháp 1992 quy định "Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng nâng cao pháp chế xã hội chủ nghĩa". Pháp chế là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và là nguyên tắc xử sự của mọi công dân. Củng cố và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghia là nâng cao ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa và là cơ sở cho pháp luật phát huy hiệu lực trong điều chỉnh các quan hệ xã hội.

42

Pháp luật Kinh tế

CHƯƠNG III HỆ THỐNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
I. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT 1. Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật xã hội chủ nghĩa Văn bản quy phạm pháp luật được Nhà nước xã hội chủ nghĩa coi là hình thức pháp luật chủ yếu của Pháp luật xã hội chủ nghĩa. Hình thức pháp luật là cách thức mà giai cấp thống trị sử dụng để thể hiện ý chí của giai cấp mình thành pháp luật, biến ý chí giai cấp trở thành ý chí nhà nước, quy định hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung đối với mọi người, được thực hiện trong đời sống xã hội. Lịch sử pháp luật có ghi nhận ba hình thức pháp luật chủ yếu là Tập quán pháp; Tiền lệ pháp và Văn bản quy phạm pháp luật. Mỗi hình thức pháp luật có thể là hình thức pháp luật chủ yếu của quốc gia này nhưng không phải là hình thức pháp luật chủ yếu của quốc gia khác. Có những quốc gia, ở những thời kỳ lịch sử nhất định, cả ba hình thức pháp luật trên đều được áp dụng, ở các lĩnh vực khác nhau. Thực tế, văn bản quy phạm pháp luật là hình thức pháp luật tiến bộ nhất và là hình thức cơ bản của pháp luật xã hội chủ nghĩa. Về nguyên tắc, Nhà nước xã hội chủ nghĩa không thừa nhận hình thức pháp luật tập quán pháp, tiền lệ pháp mà chỉ thừa nhận hình thức Văn bản quy phạm pháp luật. Nghĩa là, mọi quy tắc xử sự của pháp luật xã hội chủ nghĩa đều phải được ghi nhận, thể hiện dưới hình thức văn bản và do cơ quan có thẩm quyền ban hành. Điều 1- Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 1996 của nước ta quy định: "Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, theo thủ tục, trình tự luật định, trong đó có các quy tắc xử sự chung, được Nhà nước đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa.” Văn bản quy phạm pháp luật có ý nghĩa rất lớn trong việc tạo tiền đề để thiết lập, củng cố và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, một nguyên tắc hoạt động cơ bản của Bộ máy nhà nước và các Tổ chức chính trị-xã hội dưới chế độ xã hội chủ nghĩa. Xây dựng một hệ thống văn bản thống nhất, đồng bộ, kịp thời với kỹ thuật cao, quy định rõ ràng, cụ thể, chính xác quyền hạn trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, quyền và nghĩa vụ của công dân là điều kiện quan trọng để thiết lập một trật tự pháp luật trong xã hội. 2. Đặc điểm của văn bản quy phạm pháp luật - Văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành. Ngoài ra các Tổ chức xã hội được ủy quyền cũng có thể ban hành các văn bản quy phạm pháp luật. Theo pháp luật Việt Nam, các cá nhân, cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật gồm Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tưởng Chính phủ, các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Hội đồng thẩm phán Tòa án 43

Pháp luật Kinh tế

nhân dân tối cao, Viện trưởngViện Kiểm sát nhân dân tối cao, Hội đồng nhân dân các cấp, Ủy ban nhân dân các cấp. - Văn bản quy phạm pháp luật có nội dung là những quy phạm pháp luật. Đặc điểm này để phân biệt với những văn bản cũng do cơ quan nhà nước ban hành nhưng không phải là văn bản quy phạm pháp luật, vì trong đó không có nội dung là những quy phạm pháp luật, chẳng hạn lời hiệu triệu, lời khuyến cáo của Chính phủ, báo cáo tổng kết của các cơ quan nhà nước... Đặc biệt, cần phân biệt văn bản quy phạm pháp luật với văn bản áp dụng pháp luật, văn bản áp dụng pháp luật được ban hành bởi cơ quan có thẩm quyền áp dụng pháp luật, áp dụng một lần trong cuộc sống cho một vụ việc cụ thể như bản án của tòa án, quyết định xử phạt vi phạm hành chính của cơ quan quản lý hành chính nhà nước... Còn văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng nhiều lần trong thực tiễn cuộc sống, được áp dụng trong mọi trường hợp khi có sự kiện pháp lý xảy ra và phù hợp với các quy phạm pháp luật trong văn bản đó. - Tên gọi, nội dung, trình tự ban hành văn bản quy phạm pháp luật được quy định cụ thể trong pháp luật của nhà nước. Việc ban hành các văn bản pháp luật phải tuân thủ đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền, thủ tục, nội dung và hình thức. II. HỆ THỐNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA NHÀ NƯỚC TA Do tầm quan trọng của văn bản quy phạm pháp luật đối với đời sống xã hội, đối với nền pháp chế xã hội chủ nghĩa, để thống nhất việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các Tổ chức xã hội được ủy quyền, ngày 12/11/1996, Quốc hội khóa IX nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Luật này có hiệu lực từ ngày 01/01/1997. Căn cứ vào thứ bậc hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản quy phạm pháp luật được chia thành văn bản luật và văn bản dưới luật. Quốc hội là cơ quan cao nhất của quyền lực nhà nước, có quyền lập hiến và lập pháp. Các văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội ban hành là các văn bản luật và có hiệu lực tối cao. Các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan có thẩm quyền khác ban hành đều là các văn bản dưới luật. Các văn bản dưới luật phải tôn trọng tính hiệu lực tối cao của văn bản luật, phải dựa trên các nguyên tắc, các quy định của văn bản luật và không được trái với các văn bản luật. Hiệu lực của các văn bản dưới luật thấp hơn các văn bản luật và phụ thuộc vào thẩm quyền cơ quan ban hành ra chúng. Căn cứ theo loại cơ quan có thẩm quyền ban hành, văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước ta được quy định trong luật gồm các loại: 1. Văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của Quốc hội ban hành 1.1. Hiến pháp Hiến pháp của nhà nước ta thể chế hóa đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, thể hiện tập trung lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Hiến pháp là luật cao nhất, cơ bản nhất của một nhà nước. Chỉ có Quốc hội mới có quyền xây dựng Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp, theo trình tự thủ tục do Hiến pháp quy định. 44

Pháp luật Kinh tế

Hiến pháp của nước ta hiện nay là Hiến pháp năm 1992 được Quốc hội khóa X sửa đổi, bổ sung năm 2002. Tính cao nhất của Hiến pháp được giải thích bởi hiệu lực của nó. Quy định của quy phạm Hiến pháp phủ định những quy định của bất cứ văn bản quy phạm pháp luật nào trái với Hiến pháp. Những văn bản quy phạm pháp luật khác, nếu có những quy định không phù hợp với Hiến pháp bị coi là không hợp hiến (vi hiến), và do đó không có hiệu lực. Tính cao nhất còn thể hiện ở thủ tục thông qua Hiến pháp. Khi xây dựng và sửa đổi Hiến pháp phải theo nguyên tắc biểu quyết đa số đặc biệt, phải được hai phần ba tổng số Đại biểu Quốc hội nhất trí. Là luật cơ bản, quy phạm của Hiến pháp điều chỉnh các nhóm quan hệ xã hội cơ bản trong các lĩnh vực: chế độ kinh tế, chế độ chính trị, chính sách văn hóa xã hội, quốc phòng, an ninh, chính sách đối ngoại của nhà nước các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Bộ máy nhà nước, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân..., thể chế mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ và Nhà nước quản lý. Tính cơ bản của Hiến pháp còn thể hiện ở chỗ, Hiến pháp đề ra những vấn đề lớn, có tính nguyên tắc, lâu dài, làm cơ sở để ban hành các văn bản luật, pháp lệnh và các văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển của xã hội. 1.2. Luật (Đạo luật, Bộ luật) Luật là một loại văn bản quy phạm pháp luật có giá trị sau Hiến pháp, do Quốc hội ban hành nhằm cụ thể hóa những vấn đề quy định trong Hiến pháp trên các lĩnh của đời sống xã hội. Ví dụ Bộ luật Dân sự năm 1996, Bộ luật Hình sự năm 1999, Luật Doanh nghiệp năm 1999, Luật Hợp tác xã năm 1997... Khi xây dựng và sửa đổi luật phải theo nguyên tắc biểu quyết đa số thường, quá một nửa tổng số Đại biểu Quốc hội nhất trí. Trình tự và thủ tục ban hành Luật được quy định trong Hiến pháp và Luật ban hành các văn bản quy phạm pháp luật năm 1996. Luật và bộ luật có vai trò nòng cốt trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước ta, vừa là văn bản cụ thể hóa Hiến pháp, bảo đảm cho Hiến pháp được thực hiện, vừa là cơ sở để cho các cơ quan nhà nước ban hành các văn bản khác (văn bản dưới luật) để thực hiện quản lý nhà nước ở các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đảm bảo nguyên tắc Quốc hội là cơ quan lập pháp của nhà nước, đòi hỏi phải tăng cường sự hiện diện của các luật và bộ luật trong hệ thống pháp luật. 1.3. Nghị quyết của Quốc hội Nghị quyết của Quốc hội là văn bản quy phạm pháp luật được Quốc hội ban hành để quyết định những vấn đề về Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội; chính sách dân tộc, tôn giáo; công tác đối ngoại; quốc phòng an ninh; dự toán, phân bổ, điều chỉnh, phê chuẩn và quyết toán ngân sách; chế độ làm việc của Quốc hội, Đại biểu Quốc hội và những vấn đề khác thuộc thẩm quyền. 2. Văn bản thuộc thẩm quyền của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành 2.1. Pháp lệnh 45

Pháp luật Kinh tế

Pháp lệnh là loại văn bản quy định những vấn đề được Quốc hội giao cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội do chưa ban hành được luật để kịp thời quản lý xã hội. Pháp lệnh còn có mục đích chuẩn bị điều kiện cho việc ban hành luật. Pháp lệnh ban hành sau một thời gian được thể nghiệm trong thực tế, khi có điều kiện sẽ được Quốc hội xem xét, quyết định ban thành luật. Trong số các văn bản dưới luật, Pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội là văn bản dưới luật có hiệu lực cao nhất, nhưng có hiệu lực sau Hiến pháp và Luật. 2.2. Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Là loại văn bản do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành để giải thích Hiến pháp, Luật và Pháp lệnh; giám sát việc thi hành Hiến pháp, các văn bản khác của Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội; giám sát hoạt động của Chính phủ, Tòa án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giám sát và hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp; quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh; tổng động viên cục bộ; ban hành tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc từng địa phương; và quyết định những vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Do tầm quan trọng của văn bản thuộc thẩm quyền của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã quy định thủ tục, trình tự ban hành chúng rất cụ thể, chặt chẽ. Quy định cụ thể các bước tiến hành, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội có liên quan đến từng văn bản cụ thể trong việc soạn thảo, thông qua và công bố. 3. Văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở trung ương ban hành Các cơ quan có thẩm quyền ở Trung ương có quyền và nghĩa vụ ban hành các văn bản pháp quy quy định cụ thể việc thi hành các văn bản của Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Những văn bản thuộc loại này gồm: 3.1. Lệnh và Quyết định của Chủ tịch nước Chủ tịch nước ban hành Lệnh để công bố Hiến pháp và Luật, ban hành Lệnh và Quyết định để thực hiện các nhiệm vụ trong thẩm quyền của mình như quyết định phê chuẩn các Điều ước Quốc tế, Quyết định khen thưởng... Số lượng các văn bản quy phạm pháp luật rất ít và hiếm, và chủ yếu, Chủ tịch nước ban hành các văn bản pháp luật cá biệt trong các trường hợp cụ thể nhưng có hiệu lực lâu dài. 3.2. Nghị quyết, Nghị định của Chính phủ, Quyết định, Chỉ thị của Thủ tướng Đây là nhóm các văn bản quy phạm pháp luật hết sức quan trọng trong hệ thống pháp luật của Nhà nước ta hiện nay, trong điều kiện pháp luật chưa hoàn thiện và đồng bộ. Mục đích ban hành các văn bản quy phạm pháp luật của Cơ quan hành pháp (Chính phủ) là cụ thể hóa các văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội, để triển khai thực hiện trên thực tế. Mặt khác, trong quá trình thực hiện chức năng quản lý nhà nước, Chính phủ và Thủ tướng còn có thể ban hành các văn bản quy phạm để kịp thời điều chỉnh các nhóm quan hệ xã hội mới phát sinh, chưa được điều chỉnh bằng các văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao hơn. 46

Pháp luật Kinh tế

+ Nghị quyết của Chính phủ được ban hành để quyết định các chính sách cụ thể trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý hành chính nhà nước của Chính phủ, như xây dựng và kiện toàn của Bộ máy hành chính nhà nước từ Trung ương đến cơ sở, hướng dẫn kiểm tra Ủy ban nhân dân cấp dưới thực hiện các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên; đảm bảo thi hành Hiến pháp và pháp luật; thực hiện các chính sách xã hội, dân tộc, tôn giáo, quyết định các chủ trương chính sách về ngân sách, tiền tệ, quốc phòng và an ninh... + Nghị định của Chính phủ được ban hành để quy định chi tiết thi hành Luật, Pháp lệnh, Nghị quyết của Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội, Lệnh, Quyết định của Chủ tịch nước. Quy định tổ chức bộ máy, chức năng nhiệm vụ của các Bộ, cơ quan ngang Bộ và các cơ quan thuộc thẩm quyền thành lập của Chính phủ. Nghị định còn được ban hành để quy định những vấn đề cần thiết nhưng chưa đủ điều kiện ban hành Luật hay Pháp lệnh. Việc ban hành các Nghị định với tư cách là văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực cao nhất điều chỉnh một số quan hệ xã hội này phải được sự đồng ý của Ủy ban thường vụ Quốc hội, và trên nguyên tắc Chính phủ làm việc theo chế độ tập thể. + Quyết định của Thủ tướng được ban hành để quyết định các chủ trương, biện pháp lãnh đạo, điều hành hoạt động của Chính phủ và hệ thống hành chính nhà nước từ Trung ương đến địa phương, quy định chế độ làm việc của các thành viên Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và các vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Chính phủ. + Chỉ thị của Thủ tướng quy định các biện pháp chỉ đạo, phối hợp hoạt động của các thành viên Chính phủ; đôn đốc kiểm tra hoạt động của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các nghị quyết của Chính phủ. Các văn bản quy phạm pháp luật Quyết định và Chỉ thị được Thủ tướng ban hành trong vai trò là người đứng đầu Chính phủ, thủ trưởng của cơ quan quản lý hành chính nhà nước. 3.3. Quyết định, Chỉ thị, Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, và các thành viên khác của Chính phủ: Các Bộ, cơ quan ngang Bộ hoạt động theo nguyên tắc thủ trưởng, người đứng đầu các cơ quan này có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật dưới hình thức Quyết định, Chỉ thị, Thông tư . + Hình thức Quyết định được ban hành để quy định về tổ chức, hoạt động của các cơ quan, đơn vị trực thuộc; quy định các tiêu chuẩn, quy trình và định mức kinh tế kỹ thuật ngành, lĩnh vực do cơ quan phụ trách; quy định các biện pháp để thực hiện chức năng quản lý ngành, lĩnh vực và các nhiệm vụ do Chính phủ giao. + Hình thức Chỉ thị được sử dụng để quy định các biện pháp chỉ đạo, đôn đốc, phối hợp và kiểm tra hoạt động của các cơ quan, đơn vị thuộc ngành, đôn đốc và kiểm tra việc thực hiện văn bản pháp luật của các cơ quan nhà nước cấp trên và của chính cơ quan mình tại các đơn vị trực thuộc. 47

Pháp luật Kinh tế

+ Hình thức Thông tư: Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành Thông tư để hướng dẫn thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn thuộc phạm vi ngành, lĩnh vực mà Bộ quản lý. Bên cạnh đó còn có Thông tư liên tịch để phối hợp hoạt động giữa các bộ ngành và các cơ quan nhà nước khác như Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các cơ quan trung ương của các tổ chức chính trị-xã hội. Bên cạnh đó còn có các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan tư pháp, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết để hướng dẫn Tòa án nhân dân các cấp áp dụng thống nhất pháp luật và tổng kết kinh nghiêm xét xử, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành các Quyết định, Chỉ thị , Thông tư để quy định các vấn đề thuộc thẩm quyền của Viện trưởng. 4. Văn bản của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các cấp Để triển khai việc thi hành các văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và cơ quan nhà nước cấp trên, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản pháp quy có hiệu lực trong phạm vi địa phương do các cơ quan đó quản lý. Bao gồm: 4.1. Nghị quyết của Hội đồng nhân dân các cấp Hội đồng nhân dân các cấp là cơ quan đại diện của nhân dân tại địa phương, có quyền ra Nghị quyết để điều chỉnh các vấn đề xã hội, các quan hệ xã hội quan trọng tại địa phương trong phạm vi thẩm quyền được giao. Hội đồng nhân dân căn cứ vào các quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước cấp trên ra các Nghị quyết thi hành tại địa phương. Nội dung Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp dưới không được trái với Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp trên hoặc trái với Quyết định, Chỉ thị của Ủy ban nhân dân cấp trên (Điều 120- Hiến pháp 1992) 4.2. Quyết định, chỉ thị của Ủy ban nhân dân các cấp ban hành Ủy ban nhân dân các cấp do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra để quản lý các lĩnh vực của địa phương, phải chấp hành Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp và những quy định thể hiện trong các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, đồng thời, chỉ đạo việc thực hiện các hoạt động quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân cấp dưới. Theo các quyền hạn luật định, Ủy ban nhân dân các cấp có thẩm quyền ra các Quyết định, Chỉ thị trong công tác thực hiện chức năng quản lý nhà nước của mình. Bằng việc ban hành các Quyết định, Chỉ thị, Ủy ban nhân dân các cấp có quyền bãi bỏ, sửa đổi những Quyết định, Chỉ thị không phù hợp của Ủy ban nhân dân cấp dưới và các cơ quan ngành chuyên môn thuộc quyền tại địa phương. Bên cạnh đó, Ủy ban nhân dân có quyền đình chỉ việc thi hành những những Nghị quyết không thích đáng của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp và đề nghị Hội đồng nhân dân cấp mình sửa đổi, bãi bỏ các Nghị quyết ấy. III. HIỆU LỰC CỦA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT Tiếng Việt là ngôn ngữ dùng trong các văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước ta. Khi xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật cần phải bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, phải tôn trọng nguyên tắc hiệu lực tối cao của Hiến pháp và Luật. 48

Pháp luật Kinh tế

Văn kiện luật không được trái với Hiến pháp; các văn kiện pháp quy khác (dưới luật) không được trái với luật. Đồng thời, trật tự trên dưới của toàn hệ thống, cả văn bản luật và văn bản dưới luật phải thống nhất, không mâu thuẫn nhau. Trình tự ban hành, nội dung, tên gọi từng loại văn bản phải tuân theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành sẽ có hiệu lực trên thực tế. Để các văn bản quy phạm pháp luật đi vào cuộc sống, phát huy vai trò tác động và điều chỉnh có hiệu quả của chúng đối với các quan hệ xã hội theo đúng mục đích đã đặt ra, cần phải xác định rõ hiệu lực của chúng. Hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật là giới hạn các quan hệ xã hội được điều chỉnh bởi văn bản quy phạm đó. Phụ thuộc vào thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật, tính chất và mục đích của mỗi loại văn bản, hay từng văn bản cụ thể, hiệu lực của chúng có những giới hạn khác nhau. Hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật được thể hiện trên ba mặt: thời gian, không gian và đối tượng điều chỉnh. 1. Hiệu lực theo thời gian Hiệu lực thời gian xác định giá trị áp dụng bắt buộc của quy phạm pháp luật trong một văn bản ở một khoảng thời gian nhất định. Hiệu lực thời gian được xác định từ thời điểm phát sinh cho đến khi chấm dứt sự tác động của văn bản đó. Liên quan đến hiệu lực về thời gian của văn bản quy phạm pháp luật chúng ta phải xem xét về thời điểm phát sinh và chấm dứt hiệu lực; trường hợp ngưng hiệu lực, và hiệu lực hồi tố của văn bản. Thời điểm phát sinh hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật được xác định khác nhau, thông thường, thời điểm này được ghi rõ trong văn bản hoặc được xác định theo quy định của pháp luật. Luật ban hành văn bản của nhà nước ta quy định về thời điểm có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật như sau: + Luật, Nghị quyết Quốc hội, Pháp lệnh, Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội có hiệu lực từ ngày Chủ tịch nước công bố, trừ trường hợp có quy định ngày có hiệu lực khác. + Văn bản của Chủ tịch nước có hiệu lực kể từ ngày đăng công báo, trừ trường hợp văn bản có quy định ngày có hiệu lực khác. + Văn bản của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các văn bản liên tịch có hiệu lực sau mười lăm ngày, kể từ ngày ký văn bản hoặc có hiệu lực muộn hơn nếu được quy định tại văn bản đó. Đối với những văn bản pháp quy của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quy định các biện pháp thi hành trong tình hình khẩn cấp, thì văn bản đó có thể quy định ngày có hiệu lực sớm hơn. Trong thực tế, có những văn bản quy phạm, nếu áp dụng là không phù hợp, không có tác dụng có trường hợp có hại... thì văn bản có thể bị đình chỉ thi hành và tạm thời ngưng hiệu lực cho đến khi có quyết định xử lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Nếu quyết định xử lý không bị hủy bỏ thì văn bản lại tiếp tục có hiệu 49

Pháp luật Kinh tế

lực, ngược lại, văn bản sẽ hết hiệu lực khi có quyết định hủy bỏ văn bản đó. Thời điểm ngưng hiệu lực, tiếp tục có hiệu lực hoặc hủy bỏ hiệu lực phải được quy định rõ tại quyết định đình chỉ thi hành và quyết định xử lý của cơ quan có thẩm quyền và phải được đăng Công báo, đưa tin trên phương tiện thông tin đại chúng. Về thời điểm hết hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật, Văn bản quy phạm pháp luật mất hiệu lực một phần hay toàn bộ khi: 1)Hết thời hạn đã ghi trong văn bản; 2) Được thay thế bằng văn bản mới của chính cơ quan nhà nước ban hành ra văn bản đó; 3)Bị bãi bỏ hoặc hủy bỏ bằng một văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Văn bản quy định chi tiết hướng dẫn thi hành của văn bản hết hiệu lực cũng đồng thời hết hiệu lực cùng văn bản đó, trừ trường hợp được giữ lại toàn bộ hoặc một phần vì còn phù hợp với các quy định của văn bản mới. Về nguyên tắc, văn bản quy phạm pháp luật chỉ có hiệu lực điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh sau thời điểm có hiệu lực, nó không có hiệu lực đối với các quan hệ xã hội phát sinh trước đó. Trong một số trường hợp, nguyên tắc này là ngoại lệ, khi đó, văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực hồi tố. Hồi tố là việc vận dụng các quy phạm pháp luật trong văn bản mới được ban hành áp dụng cho vụ việc xảy ra trước khi có văn bản đó. Hiệu lực hồi tố là giá trị bắt buộc của quy phạm trong một văn bản pháp quy mới ban hành có hiệu lực trở về trước (gọi là hiệu lực trở về trước). Pháp luật của nhà nước ta, về cơ bản, không áp dụng nguyên tắc hồi tố. Nhưng với tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa, trong những trường hợp nhất định, với những điều kiện nhất định vẫn có thể vận dụng. Đó là các trường hợp nếu áp dụng nguyên tắc hồi tố mà có lợi cho chủ thể bị áp dụng, với điều kiện là phải có quy định cụ thể trong văn bản. Điều 76, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định: 1. Chỉ trong trường hợp cần thiết, văn bản quy phạm pháp luật mới được quy định hiệu lực trở về trước; 2. Không được quy định hiệu lực trở về trước trong những trường hợp sau đây: a) Quy định trách nhiệm mới đối với hành vi mà vào thời điêm thực hiện hành vi pháp luật không quy định trách nhiệm đó; b)Quy định trách nhiệm pháp lý nặng hơn. 2. Hiệu lực theo không gian Hiệu lực theo không gian giới hạn tác động của một văn bản quy phạm pháp luật được xác định theo lãnh thổ toàn quốc gia, theo một vùng hay một địa phương nhất định. Một văn bản có hiệu lực trên một phạm vi lãnh thổ rộng hay hẹp phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thẩm quyền của cơ quan ban hành ra nó, tính chất, mục đích và nội dung được thể hiện trong văn bản đó. Hiệu lực không gian của văn bản quy phạm pháp luật được xác định bằng hai cách cơ bản: ghi rõ trong văn bản hoặc không ghi rõ trong văn bản. Đối với những văn bản có ghi rõ về điều khoản phạm vi không gian áp dụng thì chúng sẽ phát huy tác dụng trong phạm vi đó. Đối với những văn bản không ghi rõ điều khoản về phạm 50

Pháp luật Kinh tế

vi không gian áp dụng thì phải dựa vào thẩm quyền của cơ quan nhà nước ban hành và nội dung các quy phạm trong văn bản để xác định hiệu lực theo không gian. Nhìn chung, những văn bản do cơ quan trung ương ban hành, nếu không xác định rõ giới hạn không gian áp dụng, thì chúng có hiệu lực trên phạm vi cả nước. Tuy nhiên phải xét nội dung văn bản đề cập đến lĩnh vực nào. Một văn bản của Chính phủ chỉ điều chỉnh các quan hệ xã hội ở miền núi, hải đảo,... không thể áp dụng cho các vùng khác trong cả nước được. Các văn bản pháp quy của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các cấp chỉ có hiệu lực trong phạm vi địa phương cơ quan đó quản lý. 3. Hiệu lực theo đối tượng áp dụng Đối tượng điều chỉnh của một văn bản quy phạm pháp luật là một lĩnh vực quan hệ xã hội nhất định. Quy phạm pháp luật của văn bản sẽ tác động vào hành vi xử sự của các chủ thể trong các quan hệ xã hội cụ thể, thuộc lĩnh vực đó. Về nguyên tắc, văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực đối với tất cả mọi đối tượng nằm trong phạm vi lãnh thổ mà văn bản đó có hiệu lực về thời gian và không gian. Các đối tượng chịu sự điều chỉnh của văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam là công dân Việt Nam và người nước ngoài, người không quốc tịch, trừ trường hợp luật của Việt Nam và Điều ước quôc tế mà nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia có quy định khác. Nhìn chung, các văn bản quy phạm pháp luật thường xác định rõ phạm vi chủ thể. Nhưng cũng có những văn bản không quy định rõ. Vì vậy, khi xét đến hiệu lực theo đối tượng chủ thể cần chú ý: - Đối với những văn bản chung, thì đối tượng tác động là tất cả mọi công dân, mọi tổ chức và cơ quan đang sống và hoạt động trên lãnh thổ thuộc thẩm quyền cơ quan đã ban hành ra văn bản đó. - Đối với những văn bản quy định về những lĩnh vực khác nhau, thì văn bản chỉ có hiệu lực đối với một số chủ thể nhất định đang hoạt động trong lĩnh vực ngành nghề đó mà thôi. Về hiệu lực không gian và đối tượng chủ thể áp dụng, Điều 79 - Luật ban hành văn bản quy định: 1)Văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước trung ương có hiệu lực trong cả nước, và được áp dụng đối với mọi cơ quan, tổ chức, công dân Việt Nam, trừ trường hơp văn bản có quy định khác; 2)Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân có hiệu lực trong phạm vi địa phương mà cơ quan đó quản lý; 3)Văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực đối với cơ quan, tổ chức người nước ngoài ở Việt Nam, trừ trường hợp luật Việt Nam hoặc Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia có quy định khác. Để xác định hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật chúng ta phải xem xét kết hợp cả hiệu lực theo thời gian, theo không gian và theo đối tượng áp dụng. Vấn đề này hết sức có ý nghĩa để đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa, cũng là điều kiện thiết lập một trật tự thứ bậc hiệu lực nghiêm ngặt giữa các văn bản, đảm bảo hình thành 51

Pháp luật Kinh tế

một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật có tính thống nhất cao. Trên thực tế, không phải là không có việc áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội khi nó không có hiệu lực đối với quan hệ xã hội đó. Khi văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực, sẽ được áp dụng trên thực tế. Việc áp dụng các văn bản này tuân theo một số yêu cầu sau: 1)Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng tính từ thời điểm có hiệu lực. Vì vậy, chỉ có những hành vi nào xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực. Trường hợp trong văn bản có quy định hiệu lực hồi tố thì theo quy định đó. 2)Trường hợp các văn bản có quy định khác nhau về cùng một vấn đề, thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn. 3)Trường hợp các văn bản pháp lụật cùng tên gọi về cùng một vấn đề do cùng một cơ quan ban hành mà có quy định khác nhau thì áp dụng văn bản ban hành sau. 4)Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật mới không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định pháp lý nhẹ hơn đối với hành vi xảy ra trước ngày văn bản có hiệu lực thì áp dụng văn bản mới (theo hiệu lực hồi tố).

52

Pháp luật Kinh tế

CHƯƠNG IV HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VÀ HỆ THỐNG HÓA PHÁP LUẬT
I. HỆ THỐNG PHÁP LUẬT 1. Khái niệm hệ thống pháp luật Hệ thống là một khái niệm được sử dụng để chỉ sự vật và hiện tượng có cấu trúc thống nhất, hoàn chỉnh, được sắp xếp theo những nguyên tắc, những mối liên hệ nhất định, đồng thời cũng chịu chi phối bởi một số quy luật chung. Hệ thống là khái niệm được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau và là cơ sở cho hoạt động hệ thống hóa các hiện tượng, sự vật của tự nhiên và xã hội. Cũng như bất kỳ hiện tượng xã hội nào, pháp luật cũng đòi hỏi phải có tính chính xác, tính khái quát cao, đồng thời phải bảo đảm tính cụ thể, tính phù hợp của nó khi chiếu vào những tình huống cụ thể xảy ra trong từng lĩnh vực của đời sống. Chính vì vậy, pháp luật đòi hỏi có tính hệ thống cao - Pháp luật của một quốc gia phải là một hệ thống. Các quy phạm pháp luật tồn tại trong những mối liên hệ nhất định và cùng chịu chi phối bởi các điều kiện vật chất và tinh thần của đời sống xã hội, chúng tạo nên một hệ thống hoàn chỉnh - hệ thống pháp luật. Khái niệm hệ thống pháp luật là một khái niệm chung bao gồm cả hai mặt của một chỉnh thể pháp luật thống nhất: hệ thống cấu trúc bên trong của pháp luật và hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật (hệ thống nguồn của pháp luật). Về hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước ta, chúng ta đã nghiên cứu trong một nội dung trước, đó là Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong chương này, chúng ta dành riêng để nghiên cứu về cấu trúc hệ thống bên trong của pháp luật Việt Nam. Xét về cấu trúc, pháp luật là một hệ thống, tồn tại một cách khách quan bởi điều kiện kinh tế-xã hội, được phân chia thành những bộ phận cấu thành (ngành luật, chế định luật) khác nhau, phù hợp với đặc điểm và tính chất của các quan hệ xã hội do chúng điều chỉnh, giữa chúng lại có quan hệ khăng khít với nhau. Như chúng ta đã biết, Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung, do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị, và được đảm bảo thực hiện bằng cưỡng chế nhà nước. Quy phạm pháp luật là thành tố nhỏ nhất, là tế bào trong hệ thống cấu trúc pháp luật, nó vừa có tính khái quát, vừa có tính cụ thể. Nhà nước ban hành các quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Căn cứ vào quy phạm pháp luật điều chỉnh, chúng ta xác định được quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể tham gia quan hệ pháp luật. Chế định luật, một số quy phạm pháp luật điều chỉnh một nhóm quan hệ xã hội giống nhau, gắn bó với nhau hợp thành một chế định luật. Chế định luật là tổng thể những quy phạm pháp luật điều chỉnh những nhóm quan hệ xã hội có mối liên kết bền vững, có nội dung và tính chất đồng nhất. Chế định luật mang tính chất nhóm, 53

Pháp luật Kinh tế

mỗi chế định mang một đặc trưng riêng, nhưng giữa các chế định luật cũng có những mối quan hệ nội tại thống nhất và không tồn tại biệt lập. Các chế định luật hợp thành ngành luật. Ví dụ: Chế định pháp luật về hợp đồng lao động bao gồm các quy phạm pháp luật quy định về các nguyên tắc, điều kiện xác lập một hợp đồng có hiệu lực, quy định về thực hiện hợp đồng và chấm dứt quan hệ hợp đồng... Ngành luật là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh những quan hệ xã hội giống nhau về tính chất trong một lĩnh vực nhất định, với phương pháp điều chỉnh đặc trưng. Mỗi nhóm quan hệ xã hội có đặc tính thống nhất khách quan có một ngành luật điều chỉnh, được gọi là đối tượng điều chỉnh của ngành luật. Các quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của một ngành luật được chia thành các nhóm nhỏ mà tương ứng với nó là các chế định luật. Ví dụ, Luật hôn nhân gia đình Việt Nam có các chế định về kết hôn, ly hôn, nhận con nuôi, hôn nhân với người nước ngoài... và các quy định mang tính chất nguyên tắc của quan hệ hôn nhân gia đình ở Việt Nam. Ba khái niệm hệ thống luật, ngành luật, chế định luật đều được hợp thành bởi các quy phạm pháp luật, tùy thuộc theo mối liên kết và phạm vi liên kết. Ngành luật và chế định luật thống nhất với nhau cùng tồn tại trong một hệ thống. Tuy vậy, giữa chúng cũng có những điểm khác nhau: - Ngành luật có phạm vi điều chỉnh rộng hơn bao gồm các chế định luật. - Mức độ liên kết các chế định trong ngành luật không chặt chẽ bằng sự liên kết các nhóm quy phạm pháp luật trong một chế định luật. - Người ta có thể bỏ đi một vài chế định luật trong một ngành luật, thì ngành luật không được hoàn chỉnh nhưng nó có thể vẫn tồn tại. Nhưng nếu bỏ đi một vài quy phạm hay nhóm quy phạm trong một chế định thì chế định đó có thể bị thay đổi hoặc chấm dứt sự tồn tại. Việc phân định hệ thống luật thành ngành luật và chế định luật có ý nghĩa về thực tiễn rất lớn. Tuy nhiên, việc xác định đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh của một ngành luật là phức tạp và chỉ là tương đối, song vấn đề này lại hết sức có ý nghĩa đối với khoa học pháp lý và là nhiệm vụ của khoa học pháp lý. Phân định ngành luật là nhằm điều chỉnh pháp luật có hiệu quả các quan hệ xã hội theo những lĩnh vực, thông qua việc áp dụng quy phạm pháp luật và phương pháp điều chỉnh thích hợp. Việc chia nhỏ ngành luật thành các chế định luật, ngoài mục đích trên, còn nhằm tạo ra những khái niệm pháp lý hoàn chỉnh, có tính ổn định để thúc đẩy công tác xây dựng pháp luật. 2. Căn cứ xác định ngành luật, chế định luật Trong khoa học pháp lý xã hội chủ nghĩa tồn tại ba tiêu chuẩn để phân chia hệ thống pháp luật thành các ngành luật và chế định luật: Căn cứ theo đối tượng điều chỉnh, Ngành luật và chế định luật tồn tại một cách khách quan, do nhóm quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh quy định. Bởi vậy, căn cứ theo đối tượng điều chỉnh để phân định hệ thống pháp luật thành ngành luật và chế định luật là chủ yếu nhất. 54

Pháp luật Kinh tế

Căn cứ theo phương pháp điều chỉnh, Trong thực tế, để xác định một quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của ngành luật, cần phải kết hợp với phương pháp điều chỉnh. Mỗi ngành luật, xuất phát từ tính chất của nhóm quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh, có những phương pháp điều chỉnh phù hợp. Phương pháp điều chỉnh của ngành luật là biện pháp mà quy phạm pháp luật sử dụng tác động vào các quan hệ xã hội để bảo đảm cho các quy định của quy phạm được thực hiện trong thực tế. Chẳng hạn, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động kinh tế, pháp luật chủ yếu dựa vào phương pháp bình đẳng, thỏa thuận giữa các chủ thể kinh doanh. Tuy nhiên, phương pháp điều chỉnh không kết hợp với đối tượng điều chỉnh thì không thể để xác định một số ngành luật, chế định luật được; bởi vì, có nhiều ngành luật cùng có một phương pháp điều chỉnh chung. Phương pháp điều chỉnh tuy không có ý nghĩa quyết định trong việc phân định ngành luật, nhưng không ít trường hợp phải kết hợp giữa đối tượng điều chỉnh với phương pháp điều chỉnh mới có khả năng phân định các ngành luật được. Căn cứ vào chủ thể của quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh: Chủ thể cũng là cơ sở cần thiết của việc phân định ngành luật. Tiêu chuẩn chủ thể được coi là tiêu chuẩn hình thức của việc phân định ngành luật và chế định luật. Căn cứ này không chủ yếu như đối tượng điều chỉnh, cũng không quan trọng bằng phương pháp điều chỉnh. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, cần phải kết hợp giữa đối tượng điều chỉnh với chủ thể mới xác định chính xác một quan hệ xã hội nào đó thuộc về ngành luật, chế định luật này hay hay chế định khác. II. CÁC NGÀNH LUẬT TRONG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM Xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ, chất lượng cao để điều chỉnh các quan hệ xã hội là yêu cầu khách quan của bất cứ nhà nước xã hội chủ nghĩa nào và là tư tưởng nhất quán của Đảng và Nhà nước ta. Tuy mức độ phát triển của các ngành luật khác nhau, hiện nay, các ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt nam đã và đang hình thành, phát triển và hoàn thiện cùng với quá trình phát triển của Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cho tới nay, hệ thống pháp luật Việt Nam bao gồm các ngành luật cơ bản sau đây, 1. Luật Nhà nước (Luật Hiến pháp) Luật Nhà nước là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ cơ bản về tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước, về chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, chế độ bầu cử, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, về quốc tịch... Luật nhà nước là ngành luật chủ đạo trong hệ thống pháp luật, đó là ngành luật điều chỉnh những quan hệ xã hội quan trọng nhất của một quốc gia, tất cả các ngành luật khác đều được hình thành trên cơ sở những nguyên tắc của Luật nhà nước. Phương pháp điều chỉnh của Luật nhà nước là phương pháp mang tính tổng hợp, trong đó phương pháp chủ đạo là phương pháp mệnh lệnh, quyền uy. Luật Nhà nước còn gọi là Luật Hiến pháp, nội dung cơ bản của Luật nhà nước bắt nguồn từ Hiến pháp, Hiến pháp là nguồn cơ bản của Luật nhà nước. 55

Pháp luật Kinh tế

2. Luật Hành chính Luật Hành chính là một ngành Luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam, bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội hình thành trong quá trình tổ chức và thực hiện hoạt động chấp hành - điều hành của các cơ quan quản lý hành chính nhà nước trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Luật Hành chính quy định những nguyên tắc, những hình thức và phương pháp quản lý hành chính nhà nước, xác định quy chế pháp lý của các chủ thể quản lý nhà nước, điều chỉnh hoạt động của công chức nhà nước, thủ tục hành chính và trách nhiệm hành chính. Trong tổ chức bộ máy nhà nước Việt Nam có một hệ thống cơ quan thực hiện chức năng hành pháp, tổ chức và triển khai thực hiện pháp luật trên thực tế đời sống xã hội. Đó là hệ thống cơ quan hành chính từ trung ương tới địa phương gồm: Chính phủ, các Bộ ngành và Ủy ban nhân dân các cấp. Luật Hành chính là ngành luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức hoạt động của khối cơ quan quản lý hành chính này. Bao gồm: ♦ Những quan hệ phát sinh trong hoạt động quản lý của các cơ quan hành chính nhà nước - nhóm quan hệ cơ bản trong đối tượng điều chỉnh của Luật Hành chính ♦ Những quan hệ có tính chất quản lý của các cơ quan nhà nước nhằm xây dựng củng cố tổ chức bộ máy và chế độ công tác nội bộ của những cơ quan ấy. ♦ Những quan hệ có tính chất chấp hành và điều hành của một số đoàn thể quần chúng và một số các nhân trong quá trình thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với những vấn đề cụ thể được pháp luật quy định. Những quan hệ pháp luật hành chính mang tính chất mệnh lệnh - phục tùng, không bình đẳng, giữa một bên là các cơ quan quản lý mang quyền lực nhà nước với một bên là các cá nhân, tổ chức chịu sự quản lý hành chính, sự điều hành. Do đó, phương pháp điều chỉnh của Luật Hành chính là phương pháp mệnh lệnh. 3. Luật Tài chính Luật Tài chính là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực hoạt động tài chính của nhà nước như việc lập dự toán, phê chuẩn và sử dụng ngân sách nhà nước, hoạt động tín dụng, việc định và thu các loại thuế và việc thanh toán qua Ngân hàng và các tổ chức tài chính khác. Các quy phạm pháp luật tài chính đặt cơ sở cho việc xây dựng hệ thống tiền tệ, quy định việc phát hành lưu thông các loại giấy bạc, việc kiểm tra cho vay tín dụng, quy định kỷ luật trong hoạt động tài chính. Phương pháp điều chỉnh của Luật tài chính là phương pháp mệnh lệnh. 4. Luật Dân sự Luật dân sự là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ tài sản mang tính chất hàng hóa - tiền tệ và một số quan hệ nhân thân không mang tính tài sản. Luật Dân sự gồm nhiều chế định cơ bản như chế định quyền sở hữu, hợp đồng dân sự, chế định thừa kế, chế định quyền sở hữu trí tuệ, chế định quyền nhân thân... Đặc điểm của quan hệ pháp luật dân sự là quan hệ hoàn toàn bình đẳng giữa các chủ thể không mang quyền lực nhà nước và ngang bằng nhau trước pháp luật. 56

Pháp luật Kinh tế

Các quan hệ này liên quan trực tiếp đến lợi ích của các bên tham gia. Do đó, phương pháp điều chỉnh của Luật Dân sự là phương pháp bình đẳng ngang quyền, các bên tự thỏa thuận, tự định đoạt và tự chịu trách nhiệm với nhau trong khuôn khổ pháp luật. Nhà nước chỉ can thiệp vào quan hệ pháp luật dân sự với tư cách là trọng tài để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể hoặc khi lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng bị xâm hại theo quy định của pháp luật mà thôi. 5. Luật Tố tụng dân sự Luật Tố tụng dân sự là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ tố tụng phát sinh trong quá trình điều tra, giải quyết các vụ án dân sự, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Nhà nước, của tập thể, và công dân, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa. Khác với các ngành luật thực định khác như Luật Dân sự, Luật hành chính..., luật tố tụng nói chung và luật Tố tụng dân sự nói riêng được gọi là luật hình thức. Gọi luật tố tụng là luật hình thức bởi vì nó không quy định trực tiếp quyền và nghĩa vụ của các bên trong một quan hệ pháp luật có tranh chấp phát sinh, mà nó chỉ quy định các nguyên tắc và thủ tục giải quyết vụ án, quyền và nghĩa vụ của các đương sự và những người có liên quan, nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án trong quá trình giải quyết các vụ án. Trên cơ sở quy phạm pháp luật thực định, Tòa án ra phán quyết xác định quyền và nghĩa vụ của các bên. Luật Tố tụng dân sự quy định về trình tự thủ tục và thẩm quyền của Tòa án dân sự trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình. Đó là quá trình áp dụng pháp luật thực định của Tòa án để phân xử quyền và nghĩa vụ của các bên. Xuất phát từ bản chất của các quan hệ dân sự là quan hệ bình đẳng, cho nên, phương pháp điều chỉnh của luật Tố tụng dân sự là phương pháp tôn trọng quyền tự định đoạt của các bên đối với quyền lợi của họ trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự. 6. Luật Hôn nhân Gia đình Quan hệ hôn nhân và gia đình cũng là nhóm quan hệ xã hội quan trọng chịu sự điều chỉnh của pháp luật. Luật Hôn nhân Gia đình là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội về nhân thân và về tài sản phát sinh do quan hệ kết hôn và nhận nuôi con nuôi như các điều kiện, thủ tục kết hôn, ly hôn, nhân nuôi con nuôi; quan hệ giữa vợ chồng, bố mẹ và con cái nhằm mục đích bảo vệ chế độ hôn nhân tự nguyên tiến bộ, bình đẳng nam nữ, một vợ, một chồng, xây dựng gia đình hạnh phúc, bảo vệ lợi ích bà mẹ và trẻ em, chăm sóc giáo dục con cái. Luật Hôn nhân gia đình có nhiệm vụ bảo vệ chế độ hôn nhân và định hướng cho quan hệ hôn nhân tiến bộ phù hợp với thuần phong mỹ tục, đạo đức, truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta. Phương pháp điều chỉnh của Luật Hôn nhân gia đình là phương pháp bình đẳng và hòa giải. 7. Luật Đất đai Luật Đất đai là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội hình thành trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất, trong đó đất đai là tư liệu sản xuất thuộc sở hữu nhà nước, do Nhà nước quản lý theo quy hoạch và kế hoạch. Các nhóm quan hệ pháp luật chủ yếu của Luật Đất đai gồm: +Các quan hệ phát sinh giữa Nhà 57

Pháp luật Kinh tế

nước với người sử dụng đất như quan hệ giao đất cho các hộ gia đình, các cá nhân sử dụng, các quan hệ thu hồi đất, các quan hệ giữa Nhà nước với người nước ngoài thuê đất của Việt Nam, quan hệ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất... + Các quan hệ giữa những người sử dụng đất với nhau trong quan hệ chuyển đổi đất thuộc quyền được giao sử dụng, quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quan hệ thừa kế quyền sử dụng đất..., nhóm quan hệ này còn được điều chỉnh bởi Luật dân sự Việt Nam. Trong các nhóm quan hệ pháp luật đất đai nói trên, mỗi nhóm có những đặc điểm riêng, dẫn đến phương pháp điều chỉnh của Luật Đất đai đối với mỗi nhóm quan hệ là khác nhau, gồm phương pháp mệnh lệnh và phương pháp bình đẳng. 8. Luật Lao động Lao động là một lĩnh vực hết sức thiết thực đối với bất kỳ một cá nhân nào. Luật Lao động là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam, gồm tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa người lao động và người sử dụng lao động và các quan hệ phát liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động. Các chế định cơ bản của Luật lao động gồm: Hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất, chế độ lao động đối với lao động nữ và người chưa thành niên, bảo hiểm xã hội, địa vị pháp lý của Công đoàn Việt Nam trong việc bảo vệ quyền lợi của người lao động, quản lý nhà nước về lao động và thanh tra lao động. Phương pháp điều chỉnh của Luật Lao động gồm: phương pháp bình đẳng thỏa thuận, phương pháp mệnh lệnh, phương pháp có sự tham gia của tổ chức công đoàn. 9. Luật Kinh tế Có nhiều ý kiến khác nhau về việc xác định Luật Kinh tế có là một ngành luật độc lập hay chỉ là một chế định luật kinh tế trong ngành Luật dân sự? Theo quan niệm truyền thống, với phương pháp bình đẳng tự nguyện, phương pháp hướng dẫn, kết hợp với phương pháp quyền uy, Luật Kinh tế là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình các cơ quan quản lý nhà nước quản lý các hoạt động kinh tế và các quan hệ giữa các đơn vị kinh tế với nhau trong quá trình tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh. Các chế định pháp luật chủ yếu của Luật Kinh tế là địa vị pháp lý của các doanh nghiệp, chế định hợp đồng kinh tế, phá sản doanh nghiệp và giải quyết tranh chấp kinh tế. Cũng có ý kiến cho rằng cần phải tách pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh tế thành một ngành luật riêng là ngành luật Tố tụng Kinh tế. Trong điều kiện hiện nay, vấn đề xây dựng hệ thống pháp luật kinh tế, ngành Luật Kinh tế và giải quyết mối quan hệ giữa Luật kinh tế với các ngành luật khác đang là một vấn đề mang tính khoa học và là nhiệm vụ của khoa học pháp lý nước ta. 10. Luật Hình sự Luật Hình sự là tổng thể các quy phạm pháp luật quy định những hành vi nguy hiểm cho xã hội là Tội phạm, những hình phạt là trách nhiệm hình sự áp dụng đối với người phạm tội, những nguyên tắc xác định tội danh và hình phạt. 58

Pháp luật Kinh tế

Đối tượng điều chỉnh của Luật Hình sự là những quan hệ xã hội phát sinh giữa Nhà nước và người phạm tội. Người phạm tội là những người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị Luật Hình sự coi là Tội phạm, khi đó họ phải chịu trách nhiệm chấp hành các biện pháp cưỡng chế, trừng phạt của Nhà nước. Còn Nhà nước, với tư cách là chủ thể của quan hệ pháp luật hình sự, có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ an toàn và lợi ích của toàn xã hội, có quyền truy tố xét xử, buộc kẻ phạm tội phải chịu những hình phạt nhất định phù hợp với tính chất và mức độ của tội phạm mà họ gây ra. Các quy phạm pháp luật hình sự điều chỉnh các quan hệ pháp luật hình sự bằng phương pháp quyền uy, đó là phương pháp sử dụng quyền lực nhà nước trong việc điều chỉnh các quan hệ giữa Nhà nước và kẻ phạm tội. 11. Luật Tố tụng hình sự Luật tố tụng hình sự là tổng thể các quy phạm pháp luật quy định các nguyên tắc, điều kiện, thủ tục giải quyết một vụ án hình sự, từ việc khởi tố, điều tra, kiểm sát và xét xử một vụ án hình sự, quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng, đến tổ chức cưỡng chế thi hành án. Đối tượng điều chỉnh của Luật tố tụng hình sự là các quan hệ phát sinh trong quá trình tố tụng hình sự giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành tố tụng với những người tham gia có liên quan. Phương pháp điều chỉnh của Luật Tố tụng hình sự gồm phương pháp quyền uy tác động đến quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng với những người có liên quan, người có nghĩa vụ tham gia tố tụng; và phương pháp phối hợp-chế ước tác động đến quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng với nhau. 12. Luật Quốc tế hiện đại (Công pháp quốc tế - Public International Law) Luật Quốc tế hiện đại là một ngành luật độc lập điều chỉnh quan hệ quốc tế phát sinh giữa các quốc gia, các tổ chức quốc tế, các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập và quyền tự quyết. Quan hệ giữa các chủ thể này được gọi là các quan hệ đối ngoại ở tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, tôn giáo, chiến tranh và hòa bình, liên minh, liên kết... Trong quá trình xác lập và thực hiện các quan hệ bang giao, các quốc gia và các tổ chức quốc tế thường xác lập các văn kiện pháp lý quốc tế (còn gọi là các Điều ước Quốc tế - International Treaty). Chỉ những quan hệ nào được ghi nhận trong các điều ước quốc tế mới được gọi là các quan hệ pháp luật thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Quốc tế hiện đại. Bản thân Luật Quốc tế hiện đại có nhiều ngành luật cơ bản hoặc có tính chất là các ngành luật truyền thống, hoặc là những ngành luật mới phát sinh. 13. Tư pháp Quốc tế (Private International Law) Nếu như Luật Quốc tế hiện đại điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa các chủ thể là các quốc gia, các tổ chức quốc tế, các dân tộc đang đấu tranh giành quyền tự quyết, thì Tư pháp quốc tế điều chỉnh các quan hệ mang tính chất dân sự thuần túy, đó là các quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân gia đình, lao động, và tố tụng dân sự... có yếu tố nước ngoài. Yếu tố nước ngoài có thể là yếu tố chủ thể của quan hệ pháp luật, có thể là sự kiện pháp lý hay nơi thực hiện các quan hệ nghĩa vụ... Nhìn chung các quan hệ pháp luật có tính chất quốc tế là các quan hệ rất phức tạp có một cơ chế 59

Pháp luật Kinh tế

điều chỉnh riêng. Các quan hệ này ngày càng đa dạng và phức tạp do xu hướng và thực tế của toàn cầu hóa và khu vực hóa hiện nay. Việc phân chia các ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam rất có ý nghĩa và có nhiều quan điểm khác nhau chưa đi đến thống nhất. Do lịch sử lập pháp của Nhà nước ta còn non trẻ, các quan hệ xã hội dần chuyển sang một tính chất mới phù hợp với nền kinh tế thị trường, nên nhìn chung tất cả các ngành luật con chưa hoàn thiện và ổn định. Đó là một thực tế mà Nhà nước Việt Nam đang cố gắng khắc phục. Trong điều kiện nền kinh tế mới và sự phát triển đang diễn ra, một số ngành luật đang được hình thành như Luật thương mại, Luật ngân hàng, Luật Bảo hiểm, .... III. HỆ THỐNG HÓA PHÁP LUẬT 1. Khái niệm hệ thống hóa pháp luật Hệ thống hóa pháp luật là nhiệm vụ quan trọng của nhà nước khi tiến hành xây dựng pháp luật. Đó là hoạt động của cơ quan nhà nước nhằm sắp xếp các quy phạm pháp luật, các văn bản pháp luật hiện hành theo một trật tự nhất định. Mục tiêu của công tác hệ thống hóa pháp luật là nhằm tạo ra một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hoàn chỉnh. Cần phân biệt hệ thống pháp luật với hệ thống hóa pháp luật. Hệ thống pháp luật là cơ cấu bên trong của pháp luật, bao gồm các ngành luật, chế định luật, tồn tại một cách khách quan; còn hệ thống hóa pháp luật khái niệm liên quan đến hình thức bên ngoài của pháp luật, phản ánh tình trạng các nguồn của pháp luật, mối liên quan giữa chúng trong một thể thống nhất - hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Hiến pháp, luật, pháp lệnh,...). Giữa hệ thống pháp luật và hệ thống hóa pháp luật tuy có sự phân biệt nhưng chúng có mối quan hệ rất mật thiết với nhau. Hệ thống pháp luật là cơ sở cho công việc hệ thống hóa pháp luật. Hệ thống hóa pháp luật sẽ tạo được một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hoàn thiện đáp ứng được yêu cầu điều chỉnh pháp luật đối với các quan hệ xã hội thường xuyên biến đổi. Thông qua hệ thống hóa pháp luật các văn bản quy phạm pháp luật cũng như từng quy phạm cụ thể mất hiệu lực sẽ bị loại bỏ. Điều này rất quan trọng đối với việc thực hiện pháp luật. Việc hệ thống hóa pháp luật tạo cho cơ quan nhà nước có khả năng định hướng và giải quyết nhanh chóng các tình huống cụ thể. Do kết quả của công tác hệ thống hóa pháp luật các bộ luật, pháp luật hiện hành được sắp xếp theo một trật tự khoa học hơn, từng lĩnh vực rõ ràng, nên việc sử dụng chúng trong quản lý, xét xử thuận lợi, dễ dàng hơn. Việc hệ thống hóa pháp luật có khả năng loại trừ tình trạng mâu thuẫn, chồng chéo của pháp luật, khắc phục được hiện tượng pháp luật vừa thiếu lại vừa thừa... 2. Nguyên tắc, tiêu chí hệ thống hóa pháp luật 2.1. Nguyên tắc hệ thống hóa pháp luật Quá trình hệ thống hóa pháp luật phải tuân thủ các nguyên tắc sau đây: a.Bảo đảm tính hiệu lực của các quy phạm pháp luật, các văn bản quy phạm pháp luật. Mục đích của hệ thống hóa pháp luật là tạo ra một hệ thống pháp luật hoàn thiện, bảo đảm cho chúng được thực hiện đầy đủ, triệt để và có hiệu lực thực tế. Do 60

Pháp luật Kinh tế

đó, công tác hệ thống hóa pháp luật phải nhằm vào các chế định, các quy phạm pháp luật còn có hiệu lực. Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình tiến hành hệ thống hóa pháp luật phải rà xét kỹ càng các quy phạm, các văn bản quy phạm pháp luật còn hiệu lực hay không. Các cơ quan ban hành tập hệ thống hóa phải chịu trách nhiệm đối với tính chính xác về hiệu lực của quy phạm pháp luật trong tập hệ thống hóa đó. b.Hệ thống hóa pháp luật phải dựa trên một phương pháp luận thống nhất. Lý luận về sự phân định ngành luật, chế định luật là cơ sở, là phương pháp luận để tiến hành hệ thống hóa pháp luật. Các quy phạm pháp luật tác động vào các quan hệ xã hội cùng tính chất phải được sắp xếp theo các chế định, các ngành luật. c.Công tác hệ thống hóa pháp luật phải đặt dưới sự quản lý nhà nước. Việc quản lý nhà nước đối với công tác hệ thống hóa pháp luật là cần thiết. Nhà nước cần có kế hoạch, kiểm tra chặt chẽ công tác hệ thống hóa pháp luật. Tình trạng ai cũng có quyền hệ thống hóa pháp luật đã làm mất ý nghĩa của hệ thống hóa pháp luật. 2.2. Tiêu chí hệ thống hóa pháp luật Hệ thống hóa pháp luật được tiến hành căn cứ theo hai tiêu chí: phạm vi, mức độ hiệu lực của các quy phạm pháp luật và tính chất của các quan hệ xã hội mà pháp luật điều chỉnh. a.Theo phạm vi, mức độ hiệu lực của quy phạm pháp luật, theo tiêu chí này, công tác hệ thống hóa pháp luật được tiến hành theo mức độ hiệu lực của văn bản từ cao xuống thấp: Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh,...., Quyết định, Chỉ thị của Uỷ ban nhân dân các cấp. b.Theo tính chất của quan hệ xã hội mà pháp luật điều chỉnh Theo tiêu chí này, quá trình hệ thống hóa pháp luật, các quy phạm pháp luật sẽ được sắp xếp theo nhóm quan hệ xã hội có cùng tính chất để hình thành các chế định, các ngành luật. Đây là tiêu chí quan trọng nhất của hệ thống hóa pháp luật. 3. Hình thức hệ thống hóa pháp luật Hệ thống hóa pháp luật được tiến hành dưới hai hình thức chủ yếu: Tập hợp hóa và Pháp điển hóa. Hình thức tập hợp hóa: Theo hình thức này, các văn bản pháp luật hoặc các quy phạm pháp luật riêng biệt được sắp xếp theo một trật tự nhất định, hoặc theo cơ quan ban hành, hoặc theo phạm vi hoạt đông của cơ quan nhà nước, hoặc theo cấp độ hiệu lực pháp lý,... Hình thức hệ thống hóa pháp luật này không làm thay đổi nội dung các quy phạm pháp luật, không bổ sung những quy định mới, chỉ loại bỏ những quy phạm đã hết hiệu lực hoặc rõ ràng là mâu thuẫn với văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn. Các cơ quan nhà nước đều có thể tiến hành việc hệ thống hóa pháp luật theo hình thức tập hợp hóa. Hình thức pháp điển hóa, Pháp điển hóa là hình thức hệ thống hóa của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Khác với tập hợp hóa, không phải bất cứ cơ quan nhà nước nào cũng có quyền pháp điển hóa. Theo hình thức này, không những quy phạm, văn bản đã có được sắp xếp theo một trật tự nhất định mà còn loại bỏ những quy phạm lỗi thời, sửa đổi những quy 61

Pháp luật Kinh tế

phạm chưa chính xác, bổ sung những quy định mới... Kết quả của pháp điển hóa là một văn bản quy phạm pháp luật mới được ra đời. Thường là các Bộ luật tương ứng với một ngành luật định. Khái niệm pháp điển hóa rất quan hệ gần với hoạt động xây dựng pháp luật. Hai hình thức hệ thống hóa pháp luật nói trên có quan hệ mật thiết với nhau. Muốn pháp điển hóa tốt, phải làm tốt công tác tập hợp hóa. Trong thực tế, khi tiến hành hệ thống hóa pháp luật phải kết hợp cả hai căn cứ một cách hài hòa.

62

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful